Điều 21.
Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm được quy định tại các Điều (14, 15, 16, 17, 18, 19, 20) của Quy chế này và có trách nhiệm:
1. Báo cáo về hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ;
2. Tổ chức trao đổi kinh nghiệm hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, đồng thời đề ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh;
3. Tổ chức nghiên cứu, quán triệt Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, các văn bản pháp luật, các chủ trương, chính sách của nhà nước cho đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh;
4. Giữ mối quan hệ và phối hợp công tác với Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, mỗi năm hai lần thông báo cho Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh;
5. Phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân tỉnh hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh;
6. Trình Hội đồng nhân dân tỉnh bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân tỉnh bầu theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh;
7. Phê chuẩn kết quả bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên Thường trực Hội đồng nhân dân các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện).
8. Xem xét quyết định việc bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã theo quy định tại Điều 69 của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
9. Giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương; xem xét kết quả giám sát của các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh khi cần thiết và báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp gần nhất;
10. Tổng hợp chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh để báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh.