vanban.org

Điều 7. Tham vấn, lấy ý kiến, truyền thông, đăng tải hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật — Nghị quyết 05/2026/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 21/05/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Hà Nội Ban hành 11/05/2026 Hiệu lực 21/05/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 05/2026/NQ-HĐND › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Tham vấn, lấy ý kiến, truyền thông, đăng tải hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

1. Việc tham vấn chính sách và các vấn đề quan trọng khác của dự thảo văn bản thi hành Luật Thủ đô, văn bản quy định đặc thù được thực hiện bằng hình thức hội nghị, hội thảo hoặc hình thức văn bản tham vấn trong quá trình soạn thảo văn bản.

2. Hồ sơ tham vấn gồm dự thảo các tài liệu sau đây:

a) Tờ trình;

b) Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật;

c) Bản so sánh, thuyết minh nội dung dự thảo văn bản;

d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo văn bản, kèm phụ lục rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan;

đ) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách; trong đó, đánh giá, so sánh giữa phương án áp dụng quy định hiện hành và phương án ban hành quy định khác với quy định hiện hành (nếu có);

e) Bản đánh giá thủ tục hành chính, việc phân cấp, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (nếu có);

g) Tài liệu khác có liên quan (nếu có).

3. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức hội nghị, hội thảo hoặc gửi văn bản để tham vấn ý kiến của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hà Nội, Sở Tư pháp, Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, đối tượng hoặc tổ chức đại diện cho đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, chuyên gia, nhà khoa học và tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trường hợp dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố, cơ quan chủ trì soạn thảo phải tham vấn ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân Thành phố.

4. Trường hợp dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có nội dung khác luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc chưa có quy định của pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo tham vấn ý kiến của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các địa phương khác trong vùng Thủ đô có liên quan đến nội dung văn bản.

5. Trường hợp dự thảo văn bản quy phạm pháp luật quy định nội dung khác hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan soạn thảo tham vấn ý kiến của Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các địa phương khác trong vùng Thủ đô có liên quan đến nội dung văn bản.

6. Tại hội nghị, hội thảo tham vấn, lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình và giải trình các vấn đề liên quan đến chính sách và vấn đề quan trọng khác của dự thảo văn bản. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, giải trình ý kiến tham vấn và xây dựng văn bản tổng hợp kết quả tham vấn dự thảo văn bản, trong đó phải nêu rõ quan điểm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được tham vấn.

7. Trường hợp tham vấn bằng hình thức văn bản, thời hạn lấy ý kiến tham vấn ít nhất là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị tham vấn. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi văn bản tiếp thu, giải trình ý kiến tham vấn cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân được tham vấn ý kiến.

8. Việc lấy ý kiến, truyền thông nội dung, đăng tải hồ sơ dự thảo văn bản thi hành Luật Thủ đô, văn bản quy định biện pháp đặc thù, đăng tải công khai bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý trên cổng hoặc trang thông tin điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Hồ sơ lấy ý kiến, hồ sơ đăng tải dự thảo văn bản theo quy định tại khoản 2 Điều này.