vanban.org

Điều 49. Quan hệ công tác giữa Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân với Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân — Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 26/05/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
HĐND Tỉnh Đắk Lắk Ban hành 26/05/2026 Hiệu lực 26/05/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 01/2026/NQ-HĐND › Chương VI › Mục 1 › Điều 49
Đọc toàn văn

Điều 49. Quan hệ công tác giữa Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân với Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân

1. Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cho Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân thông qua Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Trong trường hợp Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân vắng mặt hoặc khi cần thiết thì Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân phụ trách lĩnh vực có thể giao nhiệm vụ hoặc phân công nhiệm vụ trực tiếp thông qua Phó Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân được Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân ủy quyền, sau đó Phó Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân có trách nhiệm trực tiếp báo cáo với Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân về việc Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân chỉ đạo, phân công hoặc giao nhiệm vụ cho Văn phòng.

2. Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tham mưu giúp Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân trong công tác theo dõi, chỉ đạo, điều hành chung; ký thừa lệnh Thường trực Hội đồng nhân dân để thông báo kết luận các phiên họp Thường trực Hội đồng nhân dân, truyền đạt ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Hội đồng nhân dân.

3. Định kỳ hoặc đột xuất, Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân báo cáo với Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân về tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, những khó khăn, vướng mắc phải có ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng nhân dân hoặc phải có ý kiến thống nhất của Thường trực Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.

4. Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ của Chánh Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.