Điều 43. Tổ chức, cá nhân tiến hành khai thác dầu phải nộp thuế tài nguyên. Thuế tài nguyên đối với dầu thô được tính trên cơ sở luỹ tiến từng phần của tổng sản lượng dầu thô thực, khai thác trong mỗi ký nộp thuế dựa theo sản lượng dầu thô bình quân mỗi ngày khai thác được của toàn bộ diện tích hợp đồng dầu khí với thuế suất sau đây:
Sản lương khai thác Trên bờ và độ sâu Độ sâu trên
đến 200m nước 200m nước
Dưới 50.000 thùng/ngày: 8% 6%
Từ 50.001 đến 75.000 thùng/ngày: 10% 8%
Từ 75.001 đến 100.000 thùng/ngày: 15% 10%
Từ 100.001 đến 150.000 thùng/ngày: 20% 15%
Trên 150.000 thùng/ngày: 25% 20%
Trong trường hợp đặc biệt, tuỳ thuộc các điều kiện địa lý, kinh tế kỹ thuật cụ thể của mỏ, thuế suất thuế tài nguyên đối với dầu thô có thể được tính cao hơn hoặc bằng một mức thuế cố định do Chính phủ Việt Nam quyết định.