vanban.org

Điều 36. Trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi — Nghị định 68/2002/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/05/2013 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 4/4 · từ 15/05/2013 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 24/2013/NĐ-CP · 28/03/2013 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 19/2011/NĐ-CP · 21/03/2011
Chính phủ Ban hành 10/07/2002 Hiệu lực 02/01/2003 Hết hiệu lực toàn bộ 6 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời nghị định · 7 phiên bản · 31 năm
Nghị định số 24/2013/NĐ-CP Hướng dẫn Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài · 24/2013/NĐ-CP
Nghị định số 68/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài · 68/2002/NĐ-CP
Nghị định số 184-CP Quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài 1994 · 184-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 68/2002/NĐ-CP › Chương IV › Điều 36
Đọc toàn văn

Điều 36. Trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi

1. Trẻ em được nhận làm con nuôi phải là trẻ em từ mười lăm tuổi trở xuống. Trẻ em từ trên mười lăm tuổi đến dưới mười sáu tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là trẻ em tàn tật, trẻ em mất năng lực hành vi dân sự.

Trẻ em chỉ có thể làm con nuôi của một người hoặc của cả hai người là vợ chồng. Vợ chồng phải là những người khác giới có quan hệ hôn nhân.

2. Trẻ em được nhận làm con nuôi là trẻ em đang sống tại các cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam, bao gồm:

a) Trẻ em bị bỏ rơi;

b) Trẻ em mồ côi;

c) Trẻ em khuyết tật, tàn tật;

d) Trẻ em mất năng lực hành vi dân sự;

đ) Trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá hoá;

e) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS;

g) Trẻ em mắc các bệnh hiểm nghèo khác;

h) Trẻ em khác được tiếp nhận vào cơ sở nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

3. Trẻ em đang sống tại gia đình cũng được xem xét giải quyết cho làm con nuôi người nước ngoài, nếu thuộc trường hợp trẻ em mồ côi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em mất năng lực hành vi dân sự; trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo khác; trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em  có quan hệ họ hàng, thân thích với người xin nhận con nuôi hoặc có anh, chị, em ruột đang làm con nuôi của người xin nhận con nuôi.

4. Trẻ em khuyết tật, tàn tật, là nạn nhân của chất độc hoá học, nhiễm HIV/AIDS, mắc bệnh hiểm nghèo khác đang được chữa trị ở nước ngoài, nếu được người nước ngoài xin nhận làm con nuôi thì được xem xét giải quyết.