vanban.org

Điều 11. — Nghị định 53/2001/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/12/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/12/2021 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 110/2021/NĐ-CP · 09/12/2021
Chính phủ Ban hành 23/08/2001 Hiệu lực 08/09/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 25 năm
Nghị định số 53/2001/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành các hình phạt cấm cư trú và quản chế · 53/2001/NĐ-CP
15/12/2021110/2021/NĐ-CPBãi bỏ Đang xem 08/09/2001Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 53/2001/NĐ-CP › Chương III › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11.

1. Người bị quản chế có nghĩa vụ:

a) Trở về địa phương mà bản án chỉ định là nơi quản chế ngay sau khi chấp hành xong hình phạt tù và trình diện với Uỷ ban nhân dân cấp xã, xuất trình giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù;

b) Chịu sự quản lý, giám sát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương; không được tự ý rời khỏi nơi quản chế;

c) Mỗi tháng một lần vào tuần đầu của tháng, trình diện và báo cáo với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi quản chế việc chấp hành quy định về quản chế;

d) Khi Uỷ ban nhân dân các cấp yêu cầu, phải có mặt tại địa điểm quy định và trả lời các vấn đề có liên quan, nếu vắng mặt phải có lý do chính đáng;

đ) Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của chính quyền địa phương; tích cực lao động, học tập, cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội.

2. Người bị quản chế vi phạm quy định về quản chế thì có thể bị xử lý như sau:

a) Trường hợp sau khi chấp hành xong hình phạt tù không đến trình diện với Uỷ ban nhân dân cấp xã đúng thời hạn mà không có lý do chính đáng, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã triệu tập đến để lập biên bản và buộc chấp hành các quy định về quản chế;

b) Trường hợp cố ý không chấp hành quy định về quản chế mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án theo Điều 304 của Bộ luật Hình sự.