vanban.org

Điều 32. Bổ sung Điều 89a vào sau Điều 89 — Nghị định 42/2026/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 26/01/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Chính phủ Ban hành 26/01/2026 Hiệu lực 26/01/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 42/2026/NĐ-CP › Chương I › Điều 32
Đọc toàn văn

Điều 32. Bổ sung Điều 89a vào sau Điều 89

“Điều 89a. Xử lý tài sản và quản lý, sử dụng nguồn thu từ khai thác lâm sản thuộc sở hữu toàn dân

1. Nguồn thu từ khai thác lâm sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật, gồm:

a) Khai thác chính, khai thác tận dụng, khai thác tận thu gỗ và thực vật rừng ngoài gỗ;

b) Khai thác động vật rừng thông thường.

2. Nguyên tắc quản lý, sử dụng nguồn thu từ khai thác lâm sản:

a) Tuân thủ quy định của pháp luật về lâm nghiệp, quản lý, sử dụng tài sản công, ngân sách nhà nước và các quy định của pháp luật có liên quan;

b) Bảo đảm quản lý thống nhất, công khai, minh bạch, hạch toán đầy đủ; sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng;

c) Bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư và cá nhân tham gia hoạt động lâm nghiệp;

d) Việc quản lý, sử dụng các khoản thu, chi từ khai thác lâm sản phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về tài chính, kế toán;

đ) Việc sử dụng nguồn thu chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định; nguồn thu từ khai thác lâm sản được ưu tiên bố trí để đầu tư, chi cho hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.

3. Thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý tài sản từ khai thác lâm sản:

a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định đối với tài sản thuộc phạm vi quản lý;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định đối với tài sản thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

4. Chủ rừng, đơn vị được giao xây dựng phương án xử lý tài sản từ khai thác lâm sản có trách nhiệm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý tài sản. Nội dung phương án xử lý tài sản theo Phụ lục IIIB ban hành kèm theo Nghị định này.

5. Hình thức xử lý tài sản:

a) Tài sản được xử lý bằng hình thức bán lâm sản và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. Việc lựa chọn hình thức bán đấu giá lâm sản tại rừng trước khi khai thác hoặc bán sau khai thác được ghi cụ thể trong phương án xử lý tài sản do cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này quyết định;

b) Trường hợp tài sản không còn hoặc không có giá trị sử dụng, giá trị kinh tế: thực hiện chặt bỏ, vệ sinh rừng, tiêu hủy hoặc các hình thức xử lý khác theo quy định của pháp luật. Đối với trường hợp lâm sản có giá trị sử dụng, giá trị kinh tế thì thực hiện theo điểm a khoản này;

c) Trường hợp tài sản có giá trị nhưng giá trị nhỏ, không đủ bù đắp chi phí kiểm kê, đo đếm, vận chuyển, bảo quản, định giá, thẩm định giá, tổ chức đấu giá và các chi phí liên quan đến xử lý tài sản thì cấp có thẩm quyền quyết định thực hiện phương thức chỉ định hoặc niêm yết giá công khai để bán (bán trực tiếp), bảo đảm công khai, minh bạch, tránh thất thoát, lãng phí;

d) Trường hợp tài sản từ khai thác lâm sản do chủ rừng là cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân quản lý thì cấp có thẩm quyền quyết định thực hiện phương thức chỉ định hoặc niêm yết giá (bán trực tiếp) công khai để bán, bảo đảm công khai, minh bạch, tránh thất thoát, lãng phí.

6. Tổ chức thực hiện xử lý tài sản:

a) Chủ rừng, cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện bán tài sản từ khai thác lâm sản và các hình thức khác theo quy định tại Nghị định số 186/2025/NĐ-CP và pháp luật có liên quan;

b) Việc tổ chức đấu giá tài sản từ khai thác lâm sản thực hiện theo quy định của pháp luật về giá và pháp luật về đấu giá tài sản.

7. Quản lý, sử dụng tiền thu được từ khai thác lâm sản:

a) Các khoản thu theo quy định tại khoản 1 Điều này phải được kiểm kê, xác định giá trị, tổ chức bán đấu giá hoặc bán theo quy định, ghi thu, nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước;

b) Số tiền thu từ khai thác lâm sản được nộp vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước, sau khi trừ đi các chi phí có liên quan đến xử lý tài sản, nghĩa vụ tài chính theo quy định của nhà nước và được hưởng lợi theo quy định tại khoản 8 Điều này, phần còn lại được nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước. Chi phí liên quan đến xử lý tài sản từ khai thác lâm sản bao gồm: chi phí khảo sát, điều tra, kiểm kê, đo đếm, tính toán trữ lượng, sản lượng, giá trị (nếu có); xây dựng phương án khai thác, phương án xử lý tài sản; chặt bỏ, vệ sinh rừng, tiêu hủy; chặt hạ, cắt khúc, bốc xếp, vận xuất, vận chuyển lâm sản; định giá và thẩm định giá; tổ chức bán đấu giá và các chi phí hợp lý khác;

c) Trường hợp không có nguồn thu từ bán lâm sản hoặc nguồn thu từ bán lâm sản nhỏ hơn chi phí thực hiện từ phương án xử lý tài sản từ khai thác lâm sản, xử lý như sau:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét xử lý bằng nguồn ngân sách của địa phương đối với rừng thuộc địa phương quản lý;

Bộ, cơ quan trung ương xem xét xử lý bằng nguồn ngân sách được giao hàng năm đối với rừng thuộc bộ, cơ quan trung ương quản lý.

8. Chủ rừng và các bên liên quan được hưởng lợi từ khai thác lâm sản theo quy định tại quy chế quản lý rừng và quyền, nghĩa vụ của chủ rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của nhà nước và các chi phí có liên quan đến xử lý tài sản

a) Đối với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư:

Được hưởng toàn bộ lâm sản khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng được đầu tư bằng ngân sách nhà nước, hỗ trợ từ các chương trình, dự án có nguồn gốc ngân sách nhà nước và rừng trồng từ nguồn tiền trồng rừng thay thế; số tiền thu được từ khai thác lâm sản sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính và các chi phí có liên quan đến xử lý tài sản thì được sử dụng để quản lý bảo vệ, phát triển rừng và nâng cao đời sống.

b) Đối với chủ rừng quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều 8 Luật Lâm nghiệp:

Được hưởng toàn bộ lâm sản khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng bằng ngân sách nhà nước, hỗ trợ từ các chương trình, dự án có nguồn gốc ngân sách nhà nước, nguồn tiền trồng rừng thay thế;

Số tiền thu được từ khai thác lâm sản sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính và các chi phí có liên quan đến xử lý tài sản là nguồn thu của chủ rừng, được hạch toán, quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, ưu tiên chi cho các hoạt động theo quy định tại khoản 9 Điều này.

c) Đối với chủ rừng quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Lâm nghiệp:

Số tiền thu được từ khai thác lâm sản sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính và các chi phí có liên quan đến xử lý tài sản thì được nộp vào ngân sách nhà nước. Trường hợp chủ rừng là doanh nghiệp nhà nước thì thực hiện theo quy định tại điểm b khoản này.

d) Đối với Ủy ban nhân dân cấp xã được giao quản lý diện tích rừng: Số tiền thu được từ khai thác lâm sản sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính và các chi phí có liên quan đến xử lý tài sản thì được nộp vào ngân sách nhà nước, ưu tiên chi cho các hoạt động theo quy định tại khoản 9 Điều này.

9. Nguồn thu từ khai thác lâm sản của chủ rừng để đầu tư cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, tái tạo rừng sau khai thác, quản lý rừng bền vững, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng, hỗ trợ hoạt động bảo vệ rừng của lực lượng bảo vệ rừng và cộng đồng dân cư.”.