Điều 10. Tiền lương và thời gian làm việc được tính hưởng chế độ
1. Tiền lương tháng để tính trợ cấp quy định tại Nghị định này bao gồm: tiền lương của người làm công tác cơ yếu; các khoản phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp thâm niên vượt khung và hệ số chênh lệch bảo lưu, nếu có.
2. Tiền lương tháng để tính các chế độ trợ cấp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị định này là tiền lương tháng bình quân của năm năm cuối trước khi nghỉ hưu; tiền lương tháng để tính các chế độ trợ cấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 6, Điều 7, khoản 2 Điều 9 Nghị định này được tính là tiền lương tháng hiện hưởng.
3. Thời gian để tính hưởng chế độ trợ cấp một lần là tổng thời gian làm việc trong tổ chức cơ yếu và thời gian làm việc tại cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trước khi vào làm việc trong tổ chức cơ yếu.
Khi tính hưởng chế độ, nếu có tháng lẻ thì được tính như sau: dưới ba tháng không tính; từ đủ ba tháng đến sáu tháng tính bằng 1/2 (một phần hai) mức hưởng của một năm; từ đủ sáu tháng trở lên tính bằng mức hưởng của một năm.