vanban.org

Điều 31. Yêu cầu ký kết điều ước quốc tế, thoả thuận về viện trợ và trao đổi văn bản về viện trợ — Nghị định 305/2025/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 25/11/2025 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Chính phủ Ban hành 25/11/2025 Hiệu lực 25/11/2025 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 305/2025/NĐ-CP › Chương III › Điều 31
Đọc toàn văn

Điều 31. Yêu cầu ký kết điều ước quốc tế, thoả thuận về viện trợ và trao đổi văn bản về viện trợ

1. Điều ước quốc tế về viện trợ được ký kết trong những trường hợp sau đây:

a) Những nội dung có tính nguyên tắc về mục tiêu, quy mô, điều kiện, ưu tiên cung cấp viện trợ cho một giai đoạn hay chương trình, dự án, phi dự án cụ thể cần có cam kết của bên tiếp nhận viện trợ với ràng buộc pháp lý quốc tế để đảm bảo tính khả thi, đảm bảo những yêu cầu, ưu đãi đối với viện trợ và lợi ích của Việt Nam được đáp ứng, đảm bảo miễn trừ trách nhiệm trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định, đảm bảo được thực hiện viện trợ theo quy định pháp luật của Việt Nam và đảm bảo an toàn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan của Việt Nam;

b) Trường hợp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

2. Thỏa thuận về viện trợ được ký kết trong những trường hợp cần có cam kết của bên tiếp nhận viện trợ đối với những nội dung thuộc khoản 1 Điều này nhưng không cần thiết ràng buộc pháp lý quốc tế và không khác với quy định pháp luật của Việt Nam và bên tiếp nhận viện trợ.

3. Hình thức trao đổi văn bản: Ngoài những trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, cơ quan quản lý nhà nước về viện trợ và cơ quan chủ quản thực hiện trao đổi văn bản dựa trên yêu cầu thực tế, đề nghị của bên tiếp nhận viện trợ cần cử quy định pháp lý của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam và bên tiếp nhận viện trợ là thành viên.

4. Nguyên tắc cung cấp và quản lý viện trợ theo quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắc ưu tiên sử dụng hàng hoá, dịch vụ, kỹ thuật, nhân lực và nhà thầu của Việt Nam quy định tại Điều 7 Nghị định này cần được thể hiện trong điều ước quốc tế, thỏa thuận về viện trợ và văn bản trao đổi về viện trợ với bên tiếp nhận viện trợ, trừ những trường hợp đặc thù không thể áp dụng.