vanban.org

Điều 19. Hủy bỏ, thu hồi và cấp đổi chứng nhận Apostille đã cấp — Nghị định 293/2026/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 11/09/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Chính phủ Ban hành 23/07/2026 Hiệu lực 11/09/2026 Còn hiệu lực 1 bản án áp dụng
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 293/2026/NĐ-CP › Chương II › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Hủy bỏ, thu hồi và cấp đổi chứng nhận Apostille đã cấp

1. Cơ quan đã cấp chứng nhận Apostille hủy bỏ chứng nhận Apostille trong các trường hợp sau đây:

a) Hồ sơ đề nghị cấp chứng nhận Apostille bị xác định có yếu tố giả mạo trên cơ sở kết quả xác minh theo quy định tại Điều 15 Nghị định này hoặc kết luận của cơ quan có thẩm quyền;

b) Giấy tờ công đã được cấp chứng nhận Apostille bị cơ quan có thẩm quyền xác định được cấp trái pháp luật hoặc không có giá trị pháp lý tại thời điểm cấp chứng nhận Apostille.

Chứng nhận Apostille bị hủy bỏ không có giá trị pháp lý kể từ thời điểm được cấp.

2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trường hợp có sai sót trong việc cấp chứng nhận Apostille không do lỗi của người đề nghị dẫn đến giấy tờ không thể sử dụng ở nước ngoài thì Cơ quan đã cấp chứng nhận Apostille thu hồi và cấp đổi theo đề nghị của người đó.

Chứng nhận Apostille bị thu hồi chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm thông tin về việc thu hồi được đăng tải công khai trên Sổ đăng ký điện tử của Việt Nam.

Chứng nhận Apostille cấp đổi có số và số quản lý mới theo quy định tại điểm h và điểm l khoản 1 Điều 20 Nghị định này. Việc cấp đổi được thực hiện trên cơ sở hồ sơ và phí đã nộp. Trường hợp giấy tờ công đã gắn kèm không thể tái sử dụng để cấp đổi, Cơ quan cấp Apostille hướng dẫn người đề nghị cung cấp bản chính khác hoặc bản sao có chứng thực, bản dịch có chứng thực của chính giấy tờ công đó và không yêu cầu nộp lại hồ sơ đề nghị. Việc đề nghị cấp đổi được thực hiện trực tiếp tại Bộ phận Một cửa, qua dịch vụ bưu chính hoặc theo phương thức trực tuyến; việc thu hồi và cấp đổi được thực hiện ngay sau khi nhận được đề nghị.

3. Cơ quan cấp Apostille thực hiện việc hủy bỏ hoặc thu hồi và cấp đổi chứng nhận Apostille theo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này. Chậm nhất trong ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày có quyết định hủy bỏ hoặc thu hồi và cấp đổi, Cơ quan cấp Apostille cập nhật tình trạng hiệu lực của chứng nhận Apostille trong Kho dữ liệu theo quy định tại Điều 21 Nghị định này, đăng tải công khai trên Sổ đăng ký điện tử của Việt Nam và thông báo cho người đã được cấp chứng nhận Apostille về việc hủy bỏ hoặc thu hồi và cấp đổi bằng phương thức phù hợp. Đối với chứng nhận Apostille điện tử, việc hủy hiệu lực kết quả giải quyết thủ tục hành chính điện tử được thực hiện theo quy định của pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Trường hợp có căn cứ xác định chứng nhận Apostille đã được sử dụng hoặc đang trong quá trình xác minh tại một Quốc gia thành viên Công ước, Bộ Ngoại giao thông báo việc hủy bỏ hoặc thu hồi và cấp đổi cho cơ quan có thẩm quyền của Quốc gia thành viên đó bằng văn bản hoặc phương thức điện tử; trường hợp cần thiết, việc thông báo được thực hiện qua kênh ngoại giao.

Trên cơ sở hoạt động kiểm tra hoặc quản lý nhà nước về chứng nhận Apostille, trường hợp Cơ quan cấp Apostille chưa thực hiện việc hủy bỏ hoặc thu hồi và cấp đổi theo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ban hành văn bản yêu cầu Cơ quan cấp Apostille thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp quá thời hạn nêu trên mà Cơ quan cấp Apostille không thực hiện, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trực tiếp quyết định hủy bỏ hoặc thu hồi và cấp đổi và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

4. Việc hủy bỏ hoặc thu hồi và cấp đổi chứng nhận Apostille không làm ảnh hưởng đến việc xử lý hệ quả đối với giao dịch đã được xác lập tại quốc gia tiếp nhận giấy tờ theo pháp luật của quốc gia đó. Tại Việt Nam, quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình được bảo vệ theo quy định của pháp luật dân sự.