Điều 14. Kiểm toán dữ liệu
1. Kiểm toán dữ liệu được thực hiện nhằm phát hiện sai lệch, trùng lặp, thiếu hụt hoặc lỗi kỹ thuật trong dữ liệu; đánh giá mức độ tuân thủ quy định pháp luật, chuẩn kỹ thuật và khung kiến trúc dữ liệu quốc gia; xây dựng phương án xử lý, cải thiện chất lượng và nâng cao hiệu quả quản trị dữ liệu.
2. Việc kiểm toán dữ liệu bao gồm: Kiểm tra tính đầy đủ, chính xác và kịp thời của dữ liệu; đánh giá khả năng chia sẻ, liên thông và sử dụng lại dữ liệu; kiểm tra tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các quy định pháp luật hiện hành; đánh giá quy trình kiểm soát truy cập, bảo vệ và sao lưu dữ liệu.
3. Các hoạt động quản trị dữ liệu theo quy định của Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia đều phải được cơ quan có thẩm quyền kiểm toán dữ liệu.
4. Bộ Công an là cơ quan chủ trì thực hiện hoạt động kiểm toán dữ liệu định kỳ, đột xuất đối với dữ liệu của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương. Trừ việc kiểm toán dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng.
5. Kết quả kiểm toán dữ liệu là một trong các tiêu chí đánh giá mức độ trưởng thành dữ liệu và hiệu quả quản trị dữ liệu của từng cơ quan, tổ chức bao gồm kiểm toán tuân thủ, kiểm toán chất lượng dữ liệu và kiểm toán năng lực quản trị dữ liệu.