vanban.org

Điều 9. Chi nhánh của Trung tâm Trọng tài — Nghị định 25/2004/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/09/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 20/09/2011 Thay thế: 63/2011/NĐ-CP · 28/07/2011
Chính phủ Ban hành 15/01/2004 Hiệu lực 06/02/2004 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 6 phiên bản · 22 năm
Nghị định số 63/2011/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại · 63/2011/NĐ-CP
Nghị định số 25/2004/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại · 25/2004/NĐ-CP
20/09/201163/2011/NĐ-CPSửa đổi Đang xem 06/02/2004Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 25/2004/NĐ-CP › Chương II › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Chi nhánh của Trung tâm Trọng tài

1. Trung tâm Trọng tài được lập chi nhánh ở trong và ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi Trung tâm đặt trụ sở.

Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm Trọng tài, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của Trung tâm Trọng tài, kể cả nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền. Hoạt động của chi nhánh phải phù hợp với lĩnh vực hoạt động ghi trong Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm Trọng tài.

2. Trung tâm Trọng tài phải chịu trách nhiệm về hoạt động của chi nhánh. Trung tâm Trọng tài cử một Trọng tài viên làm Trưởng chi nhánh.

3. Trung tâm Trọng tài phải đăng ký hoạt động của chi nhánh tại Sở Tư pháp, nơi đặt chi nhánh.

Hồ sơ đăng ký hoạt động của chi nhánh gồm các giấy tờ sau đây:

a) Đơn đăng ký hoạt động, trong đó ghi rõ địa điểm dự định đặt trụ sở của chi nhánh;

b) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực hợp lệ Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của Trung tâm Trọng tài;

c) Quyết định của Trung tâm Trọng tài về việc cử Trưởng chi nhánh;

d) Danh sách Trọng tài viên của chi nhánh.

Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm cấp Giấy đăng ký hoạt động cho chi nhánh.

Chi nhánh Trung tâm Trọng tài được hoạt động kể từ ngày được cấp Giấy đăng ký hoạt động.

Mẫu Giấy đăng ký hoạt động chi nhánh của Trung tâm Trọng tài do Bộ Tư pháp ban hành.

4. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày chi nhánh được cấp Giấy đăng ký hoạt động, Trung tâm Trọng tài phải thông báo bằng văn bản về việc lập chi nhánh của Trung tâm Trọng tài cho Bộ Tư pháp.

Trong trường hợp Trung tâm Trọng tài lập chi nhánh ở ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi Trung tâm Trọng tài đặt trụ sở, thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày chi nhánh được cấp Giấy đăng ký hoạt động, Trung tâm Trọng tài thông báo bằng văn bản về việc lập chi nhánh cho Sở Tư pháp, nơi Trung tâm Trọng tài đặt trụ sở.

5. Chi nhánh của Trung tâm Trọng tài được sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật.

6. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chi nhánh được cấp Giấy đăng ký hoạt động, Trung tâm Trọng tài lập chi nhánh phải đăng báo hàng ngày của Trung ương hoặc địa phương, nơi đăng ký hoạt động của chi nhánh trong ba số liên tiếp về việc lập chi nhánh.

7. Chi nhánh của Trung tâm Trọng tài chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau:

a) Theo quyết định của Trung tâm Trọng tài;

b) Trung tâm Trọng tài lập chi nhánh chấm dứt hoạt động;

c) Bị thu hồi Giấy đăng ký hoạt động do vi phạm nghiêm trọng các quy định của Pháp lệnh và Nghị định này.

Trung tâm Trọng tài lập chi nhánh phải thông báo bằng văn bản cho Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp nơi Trung tâm Trọng tài đặt trụ sở và Sở Tư pháp, nơi đặt chi nhánh về việc chấm dứt hoạt động của chi nhánh; nộp lại Giấy đăng ký hoạt động của chi nhánh cho Sở Tư pháp, nơi đăng ký hoạt động của chi nhánh; nộp lại con dấu cho cơ quan có thẩm quyền; đăng báo hàng ngày của Trung ương hoặc địa phương, nơi đăng ký hoạt động của chi nhánh trong ba số liên tiếp về việc chấm dứt hoạt động của chi nhánh.