vanban.org

Điều 14. — Nghị định 201/HĐBT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 24/01/1996 Sửa đổi, bổ sung: 63-CP · 24/10/1996
Hội đồng Bộ trưởng Ban hành 28/12/1988 Hiệu lực 28/12/1988 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 1 phiên bản · 37 năm
Nghị định số 201/HĐBT Ban hành Điều lệ về mua bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và bí quyết kỹ thuật (gọi tắt là Điều lệ về mua bán Li xăng) 1988 · 201/HĐBT
24/10/199663-CPChưa hợp nhất 28/12/1988Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 201/HĐBT › Chương III › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14.

1. Sau khi hợp đồng lixăng được phê duyệt (trường hợp hợp đồng ký kết với bên nước ngoài) hoặc sau khi ký kết (trường hợp hợp đồng được ký kết giữa các bên trong nước) hợp đồng lixăng phải được đăng ký và nộp lưu tại Cục Sáng chế thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước để ghi nhận về mặt pháp lý việc chuyển giao đối tượng đã được ký kết.

2. Bên nước ngoài gửi đơn xin đăng ký hợp đồng lixăng cho Cục Sáng chế phải thông qua người đại diện được các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thừa nhận.

3. Người nộp đơn xin đăng ký hợp đồng lixăng phải nộp lệ phí đăng ký theo quy định.

4. Hồ sơ xin đăng ký hợp đồng lixăng bao gồm:

- Đơn xin đăng ký hợp đồng lixăng.

- Hợp đồng lixăng đã được phê duyệt (trường hợp ký kết với nước ngoài) hoặc hợp đồng lixăng đã ký kết (nếu hợp đồng được ký giữa các bên trong nước).

- Biên lai đã nộp tiền lệ phí đăng ký hợp đồng lixăng.

5. Sau khi nhận đơn xin đăng ký hợp đồng lixăng của hai bên ký kết hợp đồng, Cục Sáng chế sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng lixăng, ghi nhận hợp đồng trên vào sổ đăng bạ hợp đồng lixăng và công bố việc chuyển giao quyền sử dụng trên thông báo sở hữu công nghiệp của Cục Sáng chế.