Điều 50. Điều khoản chuyển tiếp
1. Đối với trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực và còn dư nợ đến thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành, chế độ báo cáo, công bố thông tin thực hiện theo quy định tại Nghị định này và quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành trước ngày Nghị định số 153/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành và còn dư nợ thì tiếp tục đăng ký, lưu ký và đăng ký giao dịch theo phương án phát hành trái phiếu đã được phê duyệt, chấp thuận. Tổ chức đăng ký, lưu ký trái phiếu có trách nhiệm tiếp tục thực hiện chế độ báo cáo theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP.
3. Trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành từ thời điểm Nghị định số 153/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực và còn dư nợ thì việc đăng ký, lưu ký và đăng ký giao dịch trái phiếu doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
4. Trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành và còn dư nợ hoặc đã được doanh nghiệp phát hành gửi công bố thông tin trước đợt chào bán đến Sở giao dịch chứng khoán trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành và chưa kết thúc đợt chào bán mà được bảo đảm thanh toán bằng cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, phần vốn góp của chính doanh nghiệp phát hành thì tiếp tục được sử dụng các tài sản bảo đảm này để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán cho trái phiếu cho đến khi doanh nghiệp phát hành thanh toán đầy đủ lãi, gốc của trái phiếu.
5. Việc thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu phát hành trước ngày Nghị định số 65/2022/NĐ-CP có hiệu lực thi hành phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
a) Tuân thủ quy định về thay đổi điều khoản, điều kiện trái phiếu tại điểm a và điểm b khoản 4 Điều 5 Nghị định này;
b) Trường hợp kéo dài kỳ hạn của trái phiếu thì thời gian kéo dài tối đa không quá 02 năm so với kỳ hạn tại phương án phát hành trái phiếu đã công bố cho nhà đầu tư;
c) Trường hợp người sở hữu trái phiếu không chấp thuận thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu thì doanh nghiệp phát hành có trách nhiệm đàm phán để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư. Trong trường hợp việc thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu đã được những người sở hữu trái phiếu đại diện từ 65% tổng số trái phiếu trở lên chấp thuận mà có người sở hữu trái phiếu không chấp thuận phương án đàm phán thì doanh nghiệp phát hành phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với người sở hữu trái phiếu theo phương án phát hành đã công bố cho nhà đầu tư.
6. Trường hợp trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành từ ngày Nghị định số 65/2022/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì việc thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu phát hành tiếp tục được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 65/2022/NĐ-CP.
7. Trường hợp chào bán trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước, Sở giao dịch chứng khoán đã tiếp nhận công bố thông tin về kết quả của đợt chào bán của doanh nghiệp phát hành đã gửi công bố thông tin trước đợt chào bán đến Sở giao dịch chứng khoán trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà chưa kết thúc đợt chào bán trái phiếu thì không phải thực hiện quy định tại khoản 6 Điều 15, điểm e khoản 2 Điều 17 Nghị định này.
8. Trường hợp ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ đại lý phát hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và doanh nghiệp phát hành tiếp tục thực hiện theo hợp đồng đã ký kết. Việc sửa đổi, bổ sung, gia hạn hợp đồng chỉ được thực hiện nếu nội dung sửa đổi, bổ sung, gia hạn phù hợp với quy định của Nghị định này.
9. Trường hợp chào bán trái phiếu thành nhiều đợt mà doanh nghiệp đã gửi công bố thông tin trước đợt chào bán đối với đợt chào bán đầu tiên đến Sở giao dịch chứng khoán trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được thực hiện chào bán trái phiếu thành nhiều đợt theo quy định tại Nghị định số 153/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 65/2022/NĐ-CP và Nghị định số 08/2023/NĐ-CP.