Điều 42. Trách nhiệm của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
1. Tiếp nhận thông tin, dữ liệu về trái phiếu doanh nghiệp không chuyển đổi, không kèm chứng quyền riêng lẻ của công ty đại chúng được chia sẻ từ chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp của Sở giao dịch chứng khoán để theo dõi, tổng hợp tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp; quản lý, giám sát hoạt động chào bán trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ, trái phiếu kèm chứng quyền riêng lẻ của công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý, giám sát việc công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán huy động vốn từ phát hành trái phiếu và việc cung cấp dịch vụ của công ty chứng khoán theo quy định của pháp luật chứng khoán.
2. Quản lý, giám sát việc thực hiện đăng ký, lưu ký, thực hiện quyền, chuyển quyền sở hữu, thanh toán giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam; việc thực hiện công bố thông tin, chế độ báo cáo và tổ chức giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ của Sở giao dịch chứng khoán theo quy định tại Nghị định này; trường hợp phát hiện dấu hiệu vi phạm thì thực hiện thanh tra, kiểm tra Sở giao dịch chứng khoán, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam.
3. Trên cơ sở báo cáo giám sát của Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tiếp nhận, xử lý các vi phạm về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp theo thẩm quyền và theo quy định tại Nghị định này; thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp phát hành là công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán, tổ chức cung cấp dịch vụ đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định tại Nghị định này.
4. Có ý kiến đối với quy chế của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam theo quy định tại khoản 5 Điều 40 và khoản 5 Điều 41 Nghị định này.