Điều 7. Mức chi trả
1. Mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng là số tiền được tính bằng Đồng Việt Nam trên 01 tấn CO2 hoặc 01 tấn CO2 tương đương hoặc 01 tín chỉ các-bon rừng. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân.
2. Giá trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng được xác định thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch các-bon được tính bằng Đồng Việt Nam. Trường hợp chuyển nhượng ra nước ngoài, giá trao đổi, chuyển nhượng được tính bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý ngoại hối.
3. Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này có trách nhiệm xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng theo quy định tại khoản 1 Điều này và đảm bảo giá trao đổi, chuyển nhượng lần đầu đối với từng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng không thấp hơn mức chi trả được xác định.
4. Nguyên tắc xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân
a) Bù đắp chi phí xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp, xác nhận kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng; hỗ trợ chi phí bảo vệ và phát triển rừng và hỗ trợ phát triển sinh kế; thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật và các chi phí hợp pháp khác (nếu có).
b) Phù hợp với quan hệ cung - cầu và điều kiện thị trường tại thời điểm xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng.
c) Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân cung ứng và sử dụng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng.
5. Khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sở hữu rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Lâm nghiệp áp dụng phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng quy định tại khoản 1 Điều này.