vanban.org

Điều 19. Tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khảo nghiệm phân bón phải có đủ điều kiện do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định. — Nghị định 113/2003/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/02/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/02/2014 Thay thế: 202/2013/NĐ-CP · 27/11/2013 Sửa đổi, bổ sung: 191/2007/NĐ-CP · 31/12/2007
Chính phủ Ban hành 07/10/2003 Hiệu lực 23/10/2003 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời nghị định · 9 phiên bản · 22 năm
Nghị định số 84/2019/NĐ-CP Quy định về quản lý phân bón · 84/2019/NĐ-CP
Nghị định số 108/2017/NĐ-CP Về quản lý phân bón · 108/2017/NĐ-CP
Nghị định số 202/2013/NĐ-CP Về quản lý phân bón · 202/2013/NĐ-CP
Nghị định số 113/2003/NĐ-CP Về quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón · 113/2003/NĐ-CP
01/02/2014202/2013/NĐ-CPThay thế Đang xem 23/01/2008191/2007/NĐ-CPSửa đổi 23/10/2003Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 113/2003/NĐ-CP › Chương IV › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khảo nghiệm phân bón phải có đủ điều kiện do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định.

1. Công nhận phân bón

a) Các loại phân bón phải khảo nghiệm và đã qua khảo nghiệm, được Hội đồng khoa học chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định và đề nghị công nhận để bổ sung vào Danh mục phân bón.

b) Phân bón mới được công nhận có tên gọi phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều này và các văn bản có liên quan khác.

c) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định điều kiện, trình tự thủ tục công nhận phân bón mới.

2. Đặt tên và đổi tên phân bón

a) Mỗi loại phân bón khi được đưa vào Danh mục phân bón chỉ có một tên gọi duy nhất phù hợp theo quy định tại Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2006 về nhãn hàng hoá và Nghị định này.

b) Các kiểu đặt tên dưới đây không được chấp nhận:

- Chỉ bao gồm các chữ số;

- Vi phạm đạo đức xã hội;

- Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên được ghi trên nhãn hiệu hàng hoá phân bón đang được bảo hộ;

- Gây hiểu lầm với bản chất, công dụng của phân bón.

- Phân bón sản xuất để lưu thông ở Việt Nam nhưng chỉ đặt tên bằng tiếng nước ngoài, trừ các loại phân bón sản xuất ở Việt Nam theo hợp đồng của nước ngoài hoặc sản xuất để xuất khẩu ra nước ngoài.

c) Đối với phân bón nhập khẩu mang tên bằng tiếng nước ngoài có kèm theo tên bằng tiếng Việt thì tên tiếng Việt phải thực hiện theo quy định tại điểm a, b khoản này.

d) Tổ chức, cá nhân trong quá trình sản xuất phân bón được quyền đổi tên phân bón, nếu có đủ điều kiện quy định tại điểm đ khoản này.

đ) Điều kiện đổi tên phân bón:

- Áp dụng đối với các loại phân bón khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng;

- Việc đổi tên phân bón phải phù hợp quy định tại điểm a, b, khoản 2 Điều này.

e) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định điều kiện, trình tự, thủ tục đặt tên và đổi tên phân bón