vanban.org

Điều 31. Xử lý chuyển tiếp — Nghị định 108/2024/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 15/10/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 03/11/2025 Sửa đổi, bổ sung: 286/2025/NĐ-CP · 03/11/2025
Chính phủ Ban hành 23/08/2024 Hiệu lực 15/10/2024 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 2 năm
Nghị định số 108/2024/NĐ-CP Quy định về việc quản lý, sử dụng và khai thác nhà, đất là tài sản công không sử dụng vào mục đích để ở giao cho tổ chức có chức năng quản lý kinh doanh nhà địa phương quản lý, khai thác · 108/2024/NĐ-CP
03/11/2025286/2025/NĐ-CPSửa đổi, bổ sung Hiện hành 15/10/2024Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 108/2024/NĐ-CP › Chương V › Điều 31
Đọc toàn văn

Điều 31. Xử lý chuyển tiếp

Thay cụm từ/đính chính bởi 286/2025/NĐ-CP · hiệu lực 03/11/2025

1. Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo cơ quan chuyên môn về tài chính cùng cấp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan (nếu cần) hoàn thành việc rà soát lại toàn bộ quỹ nhà, đất là tài sản công không sử dụng vào mục đích để ở đang giao cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp quản lý theo các mục đích quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này để phân loại và quản lý, xử lý như sau:

Thay cụm từ/đính chính bởi 286/2025/NĐ-CP · hiệu lực 03/11/2025

a) Đối với nhà, đất địa phương xác định có nhu cầu tiếp tục quản lý, khai thác theo mục đích quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này thì Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà địa phương quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị định này quản lý theo nguyên tắc không thành lập mới đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp. Việc quản lý, sử dụng và khai thác nhà, đất sau khi giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà được thực hiện theo quy định tại Nghị định này.

b) Đối với nhà, đất địa phương không có nhu cầu tiếp tục quản lý, khai thác theo mục đích quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này, việc quản lý, xử lý nhà, đất được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan; không thực hiện theo quy định tại Nghị định này. Đối với nhà, đất thuộc phạm vi, đối tượng thực hiện sắp xếp lại, xử lý thì thực hiện theo quy định của Chính phủ về sắp xếp lại, xử lý tài sản công; cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đang quản lý nhà, đất có trách nhiệm báo cáo kê khai, đề xuất phương án xử lý để báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền tổng hợp, lập phương án xử lý, tổ chức thực hiện phương án sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định.

Việc rà soát, phân loại nhà, đất theo quy định tại khoản này được lập thành Biên bản theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và phải hoàn thành trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành; riêng thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thời hạn hoàn thành là 24 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

2. Đối với nhà, đất đang cho thuê theo Hợp đồng ký trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà tổ chức, cá nhân thuê nhà sử dụng đúng mục đích theo quy định của pháp luật, không thuộc trường hợp phải xử lý thu hồi do vi phạm quy định của pháp luật theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền thì tiếp tục cho thuê theo Hợp đồng thuê nhà đã ký; riêng giá cho thuê và thời hạn cho thuê được xử lý như sau:

a) Giá cho thuê phải được rà soát lại; trường hợp giá cho thuê xác định lại theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định này cao hơn so với giá cho thuê theo Hợp đồng thuê nhà đã ký thì áp dụng giá cho thuê theo giá xác định lại theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định này; trường hợp giá thuê xác định lại theo quy định tại khoản 3 Điều 13 Nghị định này thấp hoặc bằng giá thuê theo Hợp đồng thuê nhà đã ký thì tiếp tục áp dụng giá cho thuê theo Hợp đồng thuê nhà đã ký.

b) Thời hạn tiếp tục thuê thực hiện theo thời hạn quy định tại Hợp đồng thuê nhà đã ký, trường hợp thời hạn thuê theo Hợp đồng thuê nhà còn lại quá 05 năm (đối với nhà, đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị định này), quá 03 năm (đối với nhà, đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị định này), tính từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành hoặc Hợp đồng thuê nhà không xác định thời hạn thuê thì thời hạn thuê tiếp theo do tổ chức quản lý, kinh doanh nhà và tổ chức, cá nhân đang thuê thỏa thuận nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định này, tính từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

c) Việc điều chỉnh giá thuê và xác định thời hạn tiếp tục thuê được lập thành Phụ lục Hợp đồng thuê nhà.

3. Đối với nhà đang cho thuê nhưng chưa ký Hợp đồng thuê nhà hoặc đã ký Hợp đồng thuê nhà nhưng đã hết hạn thuê thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, nếu tổ chức, cá nhân đang thuê đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định này và có nhu cầu tiếp tục thuê nhà, tổ chức quản lý, kinh doanh nhà và tổ chức, cá nhân đang thuê nhà phải ký Hợp đồng thuê nhà theo quy định tại Nghị định này. Thời hạn cụ thể phải ký Hợp đồng thuê nhà do tổ chức quản lý, kinh doanh nhà thông báo cho tổ chức, cá nhân đang thuê nhà bằng văn bản.

Trường hợp tổ chức, cá nhân đang thuê nhà không ký Hợp đồng thuê nhà theo thời hạn do tổ chức quản lý, kinh doanh nhà thông báo hoặc không đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định này hoặc không có nhu cầu tiếp tục thuê nhà thì tổ chức quản lý, kinh doanh nhà chấm dứt Hợp đồng thuê nhà và thu hồi lại nhà, đất đang cho thuê.

4. Trường hợp tổ chức, cá nhân thuê nhà còn nợ tiền thuê nhà và các khoản nghĩa vụ tài chính khác với tổ chức quản lý, kinh doanh nhà phát sinh trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tổ chức, cá nhân thuê nhà có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ trước (bao gồm cả khoản tiền phạt, tiền chậm nộp - nếu có) theo thời hạn do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không quá 06 tháng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành. Trường hợp tổ chức, cá nhân thuê nhà không hoàn thành việc nộp khoản tiền nợ đọng theo thời hạn quy định thì tổ chức quản lý, kinh doanh nhà làm thủ tục chấm dứt việc cho thuê và thu hồi lại nhà, đất đã cho thuê theo quy định tại Nghị định này.

5. Đối với nhà, đất đang cho thuê trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng qua rà soát, thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đã phát hiện không thực hiện đúng quy định của pháp luật thì thực hiện theo kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Tổ chức quản lý, kinh doanh nhà phối hợp với các cơ quan chức năng địa phương làm thủ tục chấm dứt việc cho thuê, thu hồi lại nhà, đất đã cho thuê và xử lý các nội dung khác (nếu có) theo kết luận của các cơ quan có chức năng.

6. Trường hợp tổ chức, cá nhân thuê nhà đã đầu tư xây dựng công trình mới, nâng cấp, mở rộng, cải tạo công trình hiện hữu được thuê trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng không thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 2 Điều 1 Nghị định này thì xử lý như sau:

a) Trường hợp tổ chức, cá nhân được cơ quan, người có thẩm quyền của địa phương cho phép thực hiện đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng, cải tạo thì tổ chức, cá nhân thuê nhà cung cấp hồ sơ chứng minh chi phí đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng, cải tạo công trình hợp pháp trên đất (được cơ quan Kiểm toán Nhà nước hoặc đơn vị kiểm toán độc lập xác nhận), gửi tổ chức quản lý, kinh doanh nhà để khấu trừ chi phí này vào tiền thuê nhà phải nộp; trừ trường hợp có thỏa thuận, cam kết giữa tổ chức, cá nhân thuê nhà với bên cho thuê hoặc cơ quan chức năng về việc không khấu trừ hoặc hoàn trả chi phí mà tổ chức, cá nhân thuê nhà đã đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng, cải tạo nhà cho thuê.

Khi chấm dứt Hợp đồng thuê nhà, tổ chức, cá nhân thuê nhà chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ nhà, công trình gắn liền với đất (bao gồm cả phần nhà, công trình đã xây dựng, nâng cấp, mở rộng, cải tạo) cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà.

b) Trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng, cải tạo nhà, công trình trái phép trên khuôn viên đất thì tổ chức, cá nhân thuê nhà có trách nhiệm phá dỡ nhà, công trình xây dựng trái phép trên đất hoặc chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ nhà, công trình gắn liền với đất (bao gồm cả phần công trình đã xây dựng, nâng cấp, mở rộng, cải tạo) cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng thuê nhà. Chi phí đầu tư, xây dựng, nâng cấp, mở rộng, cải tạo nhà, công trình trái phép do tổ chức, cá nhân thuê nhà tự chịu trách nhiệm, không được khấu trừ vào tiền thuê nhà.

7. Xử lý trường hợp nhà, đất đã bố trí làm nhà ở trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành:

a) Nhà, đất đã được tổ chức quản lý, kinh doanh nhà hoặc tổ chức, cá nhân thuê nhà bố trí làm nhà ở trước ngày 19 tháng 01 năm 2007 (ngày Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2007 về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước) đáp ứng đủ các điều kiện: Có khuôn viên độc lập hoặc có thể tách biệt khỏi khuôn viên, có lối đi riêng, không che chắn mặt tiền, không ảnh hưởng đến không gian, cảnh quan xung quanh thì thực hiện chuyển giao về địa phương để quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật.

b) Nhà, đất sử dụng làm nhà ở kể từ ngày 19 tháng 01 năm 2007 hoặc không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại điểm a khoản này thì thực hiện thu hồi theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công để đưa vào quản lý, sử dụng, khai thác theo quy định tại Nghị định này.

8. Trường hợp nhà, đất do các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp khác quản lý, cho thuê trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nay được giao cho tổ chức quản lý, kinh doanh nhà quản lý, khai thác theo quy định tại Nghị định này thì tổ chức quản lý, kinh doanh nhà có trách nhiệm kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đó.

9. Đối với chi phí quản lý, sử dụng và khai thác nhà, đất phát sinh trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa được dự toán, sử dụng và quyết toán thì thực hiện lập dự toán, giao dự toán bổ sung và thực hiện quyết toán theo quy định tại Nghị định này cùng với quyết toán năm 2024.

10. Đối với số tiền thu được từ khai thác nhà, đất phát sinh trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành mà chưa sử dụng hoặc chưa nộp ngân sách nhà nước thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng số tiền đó có trách nhiệm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.