vanban.org

Điều 10. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Điều 32 và Điều 33 của Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão — Nghị định 08/2006/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/08/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 20/08/2014 Thay thế: 66/2014/NĐ-CP · 04/07/2014 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 04/2011/NĐ-CP · 14/01/2011
Chính phủ Ban hành 16/01/2006 Hiệu lực 13/02/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời nghị định · 6 phiên bản · 30 năm
Nghị định số 66/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai · 66/2014/NĐ-CP
Nghị định số 08/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão đã được sửa đổi, bổ sung ngày 24 tháng 08 năm 2000 · 08/2006/NĐ-CP
20/08/201466/2014/NĐ-CPThay thế Đang xem 10/03/201104/2011/NĐ-CPBãi bỏ 13/02/2006Bản gốcThay thế
Nghị định số 32/CP Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Phòng, chống lụt bão 1996 · 32/CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 08/2006/NĐ-CP › Chương III › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Điều 32 và Điều 33 của Pháp lệnh Phòng, chống lụt, bão

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm:

a) Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền về phòng, chống lụt, bão và khắc phục hậu quả;

b) Lập quy hoạch, kế hoạch phòng, chống lụt, bão; thu thập và xử lý thông tin có liên quan đến lụt, bão;

c) Bố trí trong dự toán ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để chi cho việc lập quy hoạch, xây dựng, sửa chữa hệ thống đê, công trình phòng, chống lụt, bão do tỉnh quản lý, khắc phục hậu quả lụt, bão ở địa phương. Quản lý nguồn tài chính về phòng, chống lụt, bão theo quy định hiện hành;

d) Trước mùa lụt, bão, phải củng cố, kiện toàn tổ chức Ban Chỉ huy phòng chống lụt, bão các cấp (tỉnh, huyện, xã), cơ quan trực thuộc;

đ) Phân công trách nhiệm, phân cấp quản lý nhà nước về công tác phòng, chống lụt, bão cho cấp huyện, xã; xây dựng quy hoạch cụ thể và đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ theo phân cấp;

e) Tổ chức việc nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong việc phòng, chống lụt, bão; tuyên truyền phổ biến kiến thức, kinh nghiệm và tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về phòng, chống và khắc phục hậu quả lụt, bão.

2. Đối với các tỉnh thuộc đồng bằng, trung du Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ:

a) Hàng năm, trước mùa mưa lũ phải hoàn thành kế hoạch tu bổ đê; kiểm tra, đánh giá chất lượng từng tuyến đê, xử lý kịp thời các sự cố, hư hỏng của đê, kè, cống; xây dựng phương án hộ đê và cứu hộ đê cho từng tuyến, từng trọng điểm;

b) Có kế hoạch, phương án di dời, bảo vệ nhân dân trong vùng bãi sông, vùng có đê bối khi có lũ lớn;

c) Chuẩn bị đủ lực lượng, phương tiện, vật tư dự phòng để sẵn sàng đối phó với lũ lớn. Kiểm kê, đánh giá quỹ vật tư dự trữ phòng, chống lụt, bão theo quy định.

3. Đối với các tỉnh ven biển Trung Bộ:

a) Hàng năm, phải xây dựng kế hoạch, phương án đối phó với lũ, bão; đặc biệt với tình huống bất lợi nhất khi có lũ, bão, áp thấp nhiệt đới và triều cường cùng xảy ra;

b) Phải có phương án di dời dân vùng trũng, vùng cửa sông, đầm phá, ven biển, các vùng bị sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn; có biện pháp chủ động phòng, tránh để giảm nhẹ thiệt hại, từng bước thích nghi, ổn định và phát triển bền vững trong điều kiện thiên tai thường xuyên xảy ra.

4. Đối với các tỉnh bị ngập lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long:

a) Hàng năm phải xây dựng kế hoạch, phương án và biện pháp đối phó với lũ lớn và kéo dài trong nhiều ngày; có kế hoạch đối phó với bão, áp thấp nhiệt đới và lốc;

b) Chỉ đạo xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ, đảm bảo phát triển bền vững, ổn định lâu dài. Bảo vệ sản xuất và các công trình cơ sở hạ tầng, đảm bảo các hoạt động bình thường cho nhân dân trong mùa lũ, nhất là ở vùng ngập sâu.

5. Đối với các tỉnh miền núi, trung du, vùng có nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất, Ủy ban nhân dân các cấp phải chỉ đạo các ngành chuyên môn thực hiện công tác cảnh báo để có phương án chủ động đối phó, di dời người và tài sản đến nơi an toàn.

6. Các tỉnh có hồ chứa nước phải chỉ đạo công tác kiểm tra thường xuyên, phát hiện sớm các sự cố, hư hỏng để có biện pháp sửa chữa kịp thời trước mùa lũ, bão; có phương án đảm bảo an toàn cho công trình và dân cư ở vùng hạ lưu.

7. Các địa phương vùng thường xuyên bị bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt:

a) Theo dõi chặt chẽ tình hình diễn biến của lũ, bão, thiên tai; chủ động tổ chức tốt việc phòng tránh, đồng thời xây dựng các phương án cứu hộ, cứu nạn trước khi thiên tai xảy ra; có biện pháp bảo vệ nhà cửa, trường học, cơ sở khám, chữa bệnh, các khu du lịch, kho tàng và các cơ sở kinh tế, xã hội nhằm hạn chế thiệt hại do bão, lũ gây ra;

b) Có kế hoạch di dời, bảo vệ dân ở những khu vực ven sông, ven biển, vùng đầm phá, vùng thường bị ngập sâu, vùng sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở nguy hiểm đến nơi an toàn; có biện pháp đảm bảo an toàn cho tầu, thuyền khi có bão và áp thấp nhiệt đới đang hoạt động. Có quy hoạch, kế hoạch xây dựng nhà ở với kết cấu phù hợp cho việc phòng, tránh lũ, bão; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ để hạn chế thiệt hại;

c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo các ngành, các cấp chủ động dự trữ các mặt hàng thiết yếu như: lương thực, chất đốt, thuốc phòng và chữa bệnh... đến từng gia đình, từng thôn, xã, huyện;

d) Tổ chức tập huấn, diễn tập cho các lực lượng trực tiếp làm công tác phòng, chống lụt, bão, cứu hộ, cứu nạn; chủ động xây dựng phương án đối phó, huy động mọi nguồn lực trên địa bàn theo phương châm "4 tại chỗ: chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư tại chỗ và hậu cần tại chỗ" để đối phó và khắc phục hậu quả của lụt, bão.