vanban.org

Điều 23 — Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 12/04/2002 Thay thế: 34/2002/QH10 · 02/04/2002
Quốc hội Ban hành 08/10/1992 Hiệu lực 10/10/1992 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 8 phiên bản · 46 năm
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 · 34/2002/QH10
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
10/10/1992Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số Không số 1960 · 20/LCT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương VI › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23

Khi thực hiện công tác kiểm sát việc giam, giữ và cải tạo, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Thường kỳ và bất thường trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại cải tạo;

2- Kiểm tra hồ sơ, tài liệu của cơ quan, đơn vị cùng cấp và cấp dưới có trách nhiệm giam, giữ và cải tạo; gặp, hỏi người bị giam, giữ và cải tạo về việc giam, giữ và cải tạo;

3- Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc giam, giữ và cải tạo;

4- Yêu cầu cơ quan cùng cấp và cấp dưới quản lý nơi giam, giữ và cải tạo kiểm tra những nơi đó và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân;

5- Yêu cầu cơ quan cùng cấp, cấp dưới và người có trách nhiệm thông báo tình hình giam, giữ và cải tạo; trả lời về văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo;

6- Quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ và cải tạo không có căn cứ và trái pháp luật;

7- Kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ văn bản, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật.