vanban.org

Điều 16 — Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số 3-LCT/HĐNN7

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Quốc hội Ban hành 04/07/1981 Hiệu lực 13/07/1981 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 8 phiên bản · 46 năm
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 · 34/2002/QH10
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 · 3-LCT/HĐNN7
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số Không số 1960 · 20/LCT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 3-LCT/HĐNN7 › Chương V › Điều 16
Đọc toàn văn

Điều 16

Khi thực hiện công tác kiểm sát chấp hành án, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:

1/ Yêu cầu cơ quan chấp hành án và đơn vị hữu quan:

a) Tự kiểm tra việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân biết;

b) Cung cấp những tài liệu, văn bản hoặc xuất trình các hồ sơ, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến việc chấp hành án;

c) Chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được chấp hành.

2/ Kiểm sát tại chỗ việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vi và người hữu quan trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vi đó trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân đối với việc chấp hành án.

3/ Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, đơn vị hữu quan, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ những văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc chấp hành án; xử lý hành chính người chịu trách nhiệm về việc làm vi phạm pháp luật đó.

Trong trường hợp cần thiết thì khởi tố dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.