vanban.org

Điều 13 — Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số 3-LCT/HĐNN7

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Quốc hội Ban hành 04/07/1981 Hiệu lực 13/07/1981 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 8 phiên bản · 46 năm
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 · 34/2002/QH10
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 · 3-LCT/HĐNN7
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số Không số 1960 · 20/LCT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 3-LCT/HĐNN7 › Chương IV › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13

Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các viện kiểm sát nhân dân có quyền:

1/ Tham dự việc trù bị phiên toà của Toà án nhân dân cùng cấp;

2/ Tham gia tố tụng tại phiên toà của Toà án nhân dân cùng cấp; trong phiên toà hình sự, kiểm sát viên đọc cáo trạng và luận tội;

3/ Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử;

4/ Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật;

5/ Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cấp dưới, khi thấy có vi phạm pháp luật;

6/ Khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân các cấp theo thủ tục giám đốc thẩm khi thấy có vi phạm pháp luật hoặc theo thủ tục tái thẩm khi thấy có tình tiết mới.