vanban.org

Điều 23 — Luật Tổ chức Quốc hội số 66-LCT/HĐNN8

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 07/01/2002 Thay thế: 30/2001/QH10 · 25/12/2001
Quốc hội Ban hành 15/04/1992 Hiệu lực 15/04/1992 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 9 phiên bản · 66 năm
Luật Tổ chức Quốc hội 1992 · 66-LCT/HĐNN8
15/04/1992Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước 1981 · 1-LCT/HĐNN7
Luật Tổ chức Quốc hội 1960
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 66-LCT/HĐNN8 › Chương III › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23

Uỷ ban pháp luật có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh về tổ chức bộ máy Nhà nước, về hình sự, dân sự, hành chính, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và các dự án khác do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao; tham gia thẩm tra các dự án do Hội đồng dân tộc hoặc Uỷ ban khác của Quốc hội thẩm tra nhằm bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật;

2- Thẩm tra đề án thành lập, bãi bỏ các bộ và cơ quan ngang bộ; nhập, chia, thành lập mới, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

3- Giám sát việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc các lĩnh vực tổ chức bộ máy Nhà nước, về hình sự, dân sự, hành chính; giám sát việc ban hành nghị quyết, nghị định của chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; các văn bản của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát, xét xử; giám sát hoạt động của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

4- Kiến nghị các biện pháp cần thiết nhằm hoàn chỉnh hệ thống pháp luật.