vanban.org

Điều 40. Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân — Luật Phòng, chống mua bán người số 66/2011/QH12

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2025 Thay thế: 53/2024/QH15 · 28/11/2024
Quốc hội Ban hành 29/03/2011 Hiệu lực 01/12/2012 Hết hiệu lực toàn bộ 3 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời luật · 4 phiên bản · 13 năm
LUẬT PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI 2024 · 53/2024/QH15
Luật Phòng, chống mua bán người 2011 · 66/2011/QH12
01/07/202553/2024/QH15Sửa đổi Đang xem 01/12/2012Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 66/2011/QH12 › Chương V › Điều 40
Đọc toàn văn

Điều 40. Cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân

1. Cơ sở bảo trợ xã hội công lập thực hiện các nhiệm vụ sau đây trong việc hỗ trợ nạn nhân:

a) Tiếp nhận và bố trí nơi lưu trú cho nạn nhân;

b) Thực hiện chế độ hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ y tế, hỗ trợ tâm lý phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nguyện vọng của nạn nhân và khả năng đáp ứng của cơ sở;

c) Giáo dục kỹ năng sống, hướng nghiệp cho nạn nhân;

d) Đánh giá khả năng hòa nhập cộng đồng của nạn nhân, cung cấp các thông tin về chính sách, chế độ, dịch vụ hỗ trợ nạn nhân tại cộng đồng;

đ) Cung cấp thông tin cần thiết cho các cơ quan chức năng để đấu tranh phòng, chống hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này;

e) Phối hợp với các cơ quan hữu quan đưa nạn nhân về nơi cư trú;

g) Phối hợp với cơ quan Công an trong việc xác minh nạn nhân.

2. Cơ sở hỗ trợ nạn nhân do tổ chức, cá nhân Việt Nam thành lập để tham gia thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với giấy phép thành lập; việc thành lập và hoạt động không sử dụng ngân sách nhà nước. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân.