vanban.org

Điều 31. Đầu tư xây dựng cảng hàng không bằng nguồn vốn ngoài nhà nước — Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Quốc hội Ban hành 10/12/2025 Hiệu lực 01/07/2026 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 3 đời luật · 8 phiên bản · 34 năm
Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2025 · 130/2025/QH15
01/07/2026Bản gốcThay thế Hiện hành
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 130/2025/QH15 › Chương III › Điều 31
Đọc toàn văn

Điều 31. Đầu tư xây dựng cảng hàng không bằng nguồn vốn ngoài nhà nước

1. Nhà nước tổ chức lựa chọn nhà đầu tư để đầu tư xây dựng cảng hàng không theo phương thức đối tác công tư hoặc theo hình thức đầu tư kinh doanh. Trước khi quyết định hình thức đầu tư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải lấy ý kiến thống nhất của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an để bảo đảm quốc phòng, an ninh.

2. Việc đầu tư cảng hàng không theo phương thức đối tác công tư được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư. Việc đầu tư cảng hàng không theo hình thức đầu tư kinh doanh được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và các quy định sau đây:

a) Việc giao tài sản công cho nhà đầu tư để đầu tư xây dựng cảng hàng không và việc xác định giá trị tài sản công để hoàn trả cho Nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ;

b) Nhà đầu tư chuyển giao toàn bộ tài sản kết cấu hạ tầng hàng không hình thành từ dự án cho Nhà nước sau khi hết thời hạn hoạt động của dự án, bao gồm cả thời gian gia hạn (nếu có) trên cơ sở tính giá trị bồi hoàn bằng giá trị còn lại của tài sản đã đầu tư trên sổ kế toán tại thời điểm chuyển giao theo quy định của Chính phủ.

3. Việc đầu tư mở rộng, nâng cấp cảng hàng không được thực hiện như sau:

a) Theo đề xuất của nhà đầu tư đã đầu tư xây dựng cảng hàng không; trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền thỏa thuận với nhà đầu tư để tổ chức thực hiện dự án;

b) Theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp không thỏa thuận được với nhà đầu tư theo quy định tại điểm a khoản này hoặc nhà đầu tư không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật này.