vanban.org

Điều 69. Quản lý hoạt động của cảng, bến thuỷ nội địa — Luật Giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 7/7 · từ 01/03/2026 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 84/2025/QH15 · 25/06/2025 Sửa đổi, bổ sung: 44/2019/QH14 · 14/06/2019
Quốc hội Ban hành 15/06/2004 Hiệu lực 01/01/2005 Hết hiệu lực toàn bộ 75 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 7 phiên bản · 21 năm
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 23/2004/QH11 › Chương VI › Điều 69
Đọc toàn văn

Điều 69. Quản lý hoạt động của cảng, bến thuỷ nội địa

1. Cảng, bến thuỷ nội địa chỉ được hoạt động khi bảo đảm các tiêu chuẩn quy định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

2. Chủ đầu tư cảng, bến thuỷ nội địa trực tiếp khai thác hoặc cho thuê khai thác cảng, bến thuỷ nội địa.

3. Kinh doanh xếp, dỡ hàng hoá, phục vụ hành khách tại cảng, bến thuỷ nội địa là hoạt động kinh doanh có điều kiện.

4. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về quản lý hoạt động và phân cấp quản lý đối với cảng, bến thuỷ nội địa, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.

5. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định về quản lý hoạt động đối với cảng, bến thuỷ nội địa làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, cảng cá, bến cá.

6. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thực hiện quản lý hoạt động của bến khách ngang sông và các cảng, bến thuỷ nội địa được phân cấp cho địa phương quản lý.