vanban.org

Điều 64. Hòa giải viên — Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 19/2023/QH15

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2024 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2026
Quốc hội Ban hành 20/06/2023 Hiệu lực 01/07/2024 Còn hiệu lực 6 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời luật · 4 phiên bản · 15 năm
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 · 19/2023/QH15
01/07/2026116/2025/QH15Thay cụm từ Hiện hành 01/07/2024Bản gốcThay thế
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 · 59/2010/QH12
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 19/2023/QH15 › Chương V › Mục 3 › Điều 64
Đọc toàn văn

Điều 64. Hòa giải viên

Hòa giải viên hòa giải tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh bao gồm:

1. Hòa giải viên theo quy định của pháp luật về hòa giải có liên quan;

2. Hòa giải viên thuộc tổ chức quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 63 của Luật này là công dân Việt Nam đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, có uy tín;

c) Có kỹ năng hòa giải, hiểu biết pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật khác có liên quan;

d) Không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xóa án tích.

3. Trường hợp tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh mà có người dân tộc thiểu số thì phải có ít nhất 01 hòa giải viên là người dân tộc thiểu số hoặc là người sử dụng thông thạo tiếng của dân tộc thiểu số đó. Trường hợp không có hòa giải viên đáp ứng yêu cầu tại khoản này thì các bên tham gia hòa giải tự bố trí phiên dịch hoặc đề nghị hòa giải viên bố trí phiên dịch, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.