vanban.org

Điều 6. Lĩnh vực thương mại, đầu tư, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng và kiểm toán nhà nước. — Hiệp định

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 09/01/2009 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Tư pháp Ban hành 08/01/2009 Hiệu lực 09/01/2009 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Hiệp định Không số › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Lĩnh vực thương mại, đầu tư, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng và kiểm toán nhà nước.

1. Về thương mại:

- Tiếp tục phối hợp triển khai Đề án phát triển thương mại giữa hai nước giai đoạn 2008 – 2015 theo mục tiêu kim ngạch hai chiều 1 tỷ USD vào năm 2010, 2 tỷ USD vào năm 2015.

- Dành ưu tiên ưu đãi cho nhau trên cơ sở quan hệ đặc biệt sẵn có, tiếp tục thực hiện các cơ chế ưu đãi đã thỏa thuận về thuế suất thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có xuất xứ từ hai nước; nghiên cứu mở rộng danh mục các mặt hàng được hưởng thuế suất bằng 0%.

- Hai Bên ký mới và triển khai thực hiện Hiệp định quá cảnh hàng hóa Việt Nam – Lào.

Hai Bên thúc đẩy các Bộ, ngành hữu quan theo dõi giám sát việc tổ chức thực hiện Bản thỏa thuận giữa hai Bộ Công Thương hai nước về các mặt hàng được áp dụng ưu đãi thuế suất thuế nhập khẩu Việt Nam - Lào; và Biên bản Hội nghị quản lý chợ biên giới và thương mại biên giới Việt Nam - Lào lần thứ 6.

- Hai Bên tăng cường trao đổi kinh nghiệm về các lĩnh vực cùng quan tâm trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực, công tác quản lý thị trường; phối hợp ngăn chặn buôn bán trốn thuế và buôn bán trái pháp luật.

2. Về đầu tư:

- Hai Bên phối hợp xây dựng kế hoạch hợp tác đầu tư trong những năm tới, tìm biện pháp để đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư bằng nhiều hình thức thích hợp, tìm giải pháp mở rộng đầu tư trên các lĩnh vực vào mỗi nước.

- Phối hợp tuyên truyền rộng rãi Luật đầu tư của mỗi nước bằng tiếng Việt và tiếng Lào; xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy đầu tư Việt Nam vào Lào và đầu tư của Lào vào Việt Nam; khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam và Lào xây dựng mô hình doanh nghiệp liên doanh để cùng hợp tác đầu tư. Thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định, quy chế và luật pháp liên quan của mỗi nước; thực hiện nghiêm chế độ báo cáo theo định kỳ tới các cơ quan liên quan hai Bên.

- Khuyến khích các doanh nghiệp, mọi thành phần kinh tế của mỗi bên đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, chế biến, năng lượng, điện, khai khoáng, dịch vụ … tại mỗi nước; ưu tiên các dự án tạo việc làm gắn với xóa đói giảm nghèo, góp phần ổn định xã hội, tăng thu ngân sách quốc gia và kim ngạch xuất khẩu.

Phía Lào khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam sang đầu tư sản xuất, chế biến hàng hóa nông lâm sản có lợi thế được ưu tiên đầu tư và các loại hàng hóa khác để xuất khẩu; xây dựng cơ sở hạ tầng khu vực thương mại Đen Sa Vẳn, tỉnh Savannakhệt và khu vực cửa khẩu biên giới khác; xây dựng các Trung tâm Thương mại Việt Nam tại Lào và Trung tâm Thương mại Lào tại Việt Nam, các Khu đô thị thương mại của Việt Nam tại Thủ đô Viêng Chăn, Luangprabang, Savannakhệt.

- Hai Bên xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp với quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) làm cơ sở thành lập các khu chế xuất, khu kinh tế mở, khu kinh tế, đặc biệt dọc các tuyến đường nối giữa hai nước.

- Hai Bên khuyến khích các doanh nghiệp trẻ hai nước hợp tác đầu tư và hỗ trợ, giúp đỡ nhau tăng cường năng lực; khuyến khích các doanh nghiệp lập quỹ hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở hạ tầng địa phương.

- Năng lượng, điện:

Hai Bên tiếp tục khuyến khích mua bán điện dọc biên giới hai nước; thúc đẩy xây dựng dự án Xê-ca-mản 3, dự án thủy điện Xê-ca-mản 1 và các dự án đã ký hợp đồng phát triển dự án (PDA) thực hiện theo đúng tiến độ; tạo điều kiện để triển khai dự án thủy điện Luangprabang, các dự án đã và đang xem xét để ký MOU; thúc đẩy Công ty Cổ phần điện Việt - Lào khảo sát thiết kế đầu tư xây dựng đường dây 115kV từ thủy điện Xê-ca-mản 1 đến trạm 115kV tại Atapư; thúc đẩy EVN, EdL khẩn trương triển khai chuẩn bị xây dựng đường dây 500kV từ Bản Xoóc tỉnh Atapư (Lào) đến Pleiku tỉnh Gia Lai (Việt Nam) theo các nội dung hai bên đã thỏa thuận.

- Tìm kiếm, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản:

Hai Bên thống nhất thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam triển khai theo đúng tiến độ ghi trong các hợp đồng đã ký về tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản và tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi và cấp phép cho các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện tìm kiếm, thăm dò, khai thác, khoáng sản tại Lào phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của mỗi nước; khuyến khích các doanh nghiệp hai nước hợp tác đầu tư chế biến nâng cao giá trị của các loại khoáng sản nhằm tạo thêm việc làm, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định xã hội, an ninh quốc phòng.

- Nông nghiệp, lâm nghiệp:

Hai Bên tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có lợi thế và được ưu tiên đầu tư; Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuất các loại hàng hóa nông lâm sản có tiềm năng, kể cả trồng các loại cây công nghiệp ở các vùng phù hợp theo quy hoạch phân bổ đất đai quốc gia và quy hoạch phân vùng sản xuất nông nghiệp bền vững nhằm hình thành các vùng nguyên liệu phục vụ cho chế biến, chăn nuôi; hai Bên tiếp tục hợp tác bảo vệ rừng và tìm biện pháp ngăn chặn việc chặt phá rừng nhằm bảo vệ môi trường sinh thái. Chính phủ Lào tiếp tục tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư sản xuất nông nghiệp theo hình thức 3 + 2 ở các vùng có khả năng bố trí được.

3. Về giao thông vận tải:

- Hai Bên thúc đẩy nhanh triển khai các bước tiếp theo để thực hiện việc kiểm tra hàng hóa và phương tiện vận tải theo hình thức "kiểm tra một cửa và một điểm dừng” tại cửa khẩu quốc tế Lao Bảo - Đen Sa Vẳn phù hợp với quy định của Hiệp định GMS. Phía Lào sẽ đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng, cải tạo địa điểm làm việc, phương tiện kiểm tra, hệ thống thông tin liên lạc và các cơ sở hạ tầng khác đáp ứng với yêu cầu của hình thức kiểm tra này.

- Giao hai ngành giao thông vận tải tiếp tục trao đổi kế hoạch sử dụng Cảng Vũng Áng có hiệu quả trên cơ sở Thỏa thuận về sử dụng Cảng Vũng Áng ký ngày 20 tháng 7 năm 2001; tiếp tục tạo thuận lợi thực hiện các dự án hợp tác liên kết giao thông vận tải giữa hai nước trong lĩnh vực đường bộ, đường không.

- Hai Bên phối hợp để tiến hành sửa đổi Hiệp định, Nghị định thư vận tải đường bộ và những nội dung có liên quan phù hợp với Thỏa thuận Hà Nội 2007 và các văn kiện đã được ký kết trong khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS).

4. Về tài chính, ngân hàng và kiểm toán nhà nước:

Hai Bên tiếp tục tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm, đào tạo cán bộ tài chính, ngân hàng, chứng khoán và kiểm toán nhà nước; tiếp tục phối hợp thực hiện Hiệp định về thanh toán giữa hai nước bằng tiền kíp Lào (LAK) và tiền đồng Việt Nam (VND).