Điều 36. Quyết định hoàn thuế
1. Cơ quan thuế giải quyết hồ sơ hoàn thuế xác định số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không được hoàn, số tiền thuế nợ phải bù trừ, số thuế đề nghị nộp thay vào ngân sách nhà nước cho người nộp thuế khác, số tiền thuế còn được hoàn trả cho người nộp thuế, thực hiện lập đề xuất hoàn thuế và dự thảo Quyết định hoàn thuế theo mẫu số 01/QĐHT (hoặc Quyết định hoàn thuế kiểm bù trừ thu ngân sách nhà nước theo mẫu số 02/QĐHT), Phụ lục số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp được bù trừ theo mẫu số 01/PL-BT (nếu có), Thông báo về việc không được hoàn thuế theo mẫu số 04/TB-HT (nếu có) ban hành kèm theo phụ lục 1 Thông tư này.
2. Chi cục Thuế được phân công tiếp nhận và giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Thông tư này chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết hoàn thuế theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này cho Cục Thuế để xem xét ban hành Quyết định hoàn thuế. Cục Thuế ban hành Quyết định hoàn thuế theo mẫu số 01/QĐHT trong trường hợp người nộp thuế không còn tiền thuế nợ hoặc Quyết định hoàn kiểm bù trừ khoản thu ngân sách nhà nước theo mẫu số 02/QĐHT, Phụ lục số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp được bù trừ theo mẫu số 01/PL-BT (nếu có) trong trường hợp người nộp thuế còn nợ tiền thuế nợ hoặc người nộp thuế đề nghị bù trừ số thuế được hoàn trả với khoản nợ, khoản thu phát sinh của người nộp thuế khác, hoặc Quyết định thanh toán cho ngân hàng là đại lý hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 21 Thông tư số 72/2014/TT-BTC ngày 30/5/2014 của Bộ Tài chính được sửa đổi, bổ sung tại khoản 15 Điều 1 Thông tư số 92/2019/TT-BTC ngày 31/12/2019 của Bộ Tài chính đối với hoàn thuế cho ngân hàng là đại lý hoàn thuế giá trị gia tăng, Thông báo về việc không được hoàn thuế mẫu số 04/TB-HT ban hành kèm theo phụ lục 1 Thông tư này. Cục Thuế chịu trách nhiệm về quyết định hoàn thuế theo quy định của pháp luật.
mắc thì Cục Thuế đề nghị Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính hướng dẫn về mặt chính sách, quy trình; Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế không thể chỉ đạo Cục Thuế thực hiện hoàn thuế hay không hoàn thuế đối với 01 hồ sơ cụ thể.
Công ty An Phát do Chi cục Thuế quận Ba Đình quản lý trực tiếp, do đó, quyết định hoàn thuế GTGT cho Công ty thuộc thẩm quyền của Cục Thuế thành phố Hà Nội. Quá trình giải quyết hồ sơ của Cục Thuế thành phố Hà Nội đã được báo cáo ở phần trên.
Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, trên cơ sở đề nghị của Cục Thuế thành phố Hà Nội, Tổng cục Thuế đã 03 lần hỗ trợ Cục Thuế thành phố Hà Nội trao đổi thông tin với cơ quan thuế Trung Quốc và nhiều lần trả lời các vướng mắc của Cục Thuế15. Khi nhận được các đơn thư của Công ty An Phát và các văn bản của các cơ quan, ban, ngành chuyển đến, Tổng cục Thuế đã luôn kịp thời chỉ đạo Cục Thuế xem xét, đối thoại, giải quyết hồ sơ hoàn thuế GTGT của Công ty An Phát theo đúng quy định pháp luật và thẩm quyền16.
Đối với công tác quản lý hoàn thuế nói chung, triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 470/CD-TTg ngày 26/5/2023 về việc tiếp tục thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh của người dân, doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã có công văn số 5427/BTC-VP ngày 26/5/2023, Tổng cục Thuế có các công văn số 2099/TCT-KK ngày 26/5/2023, số 2426/TCT-KK ngày 15/6/2023, số 2489/TCT-VP ngày 19/6/2023 và Công điện số 07/CD-TCT ngày 09/8/2023 về việc đẩy nhanh giải quyết hồ sơ hoàn thuế GTGT, đảm bảo giải quyết hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế đúng thời hạn quy định, đúng đối tượng và trường hợp được hoàn thuế theo quy định của pháp luật thuế và pháp luật quản lý thuế.
Thứ hai, xác định nghĩa vụ thuế phải căn cứ trên hồ sơ, chứng từ có giá trị pháp lý, được pháp luật công nhận.
Tại khoản 4 Điều 143 Luật Quản lý thuế17 đã quy định hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ làm tăng số thuế được hoàn là hành vi trốn thuế. Điều 4 Nghị định số 125/2020/NĐ-CP18 ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn có quy định chi tiết về từng hành vi sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp và hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ. Về nguyên tắc, người nộp thuế khi kê khai, xác định nghĩa vụ thuế phải sử dụng các hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo đúng quy định pháp luật; trường hợp có mua bán hàng hóa, dịch vụ nhưng không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp thì cũng không được sử dụng để kê khai thuế.
Thực tế vẫn còn tình trạng mua bán hóa đơn, chứng từ không hợp pháp nhằm hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc bán ra để kê khai, nộp thuế. Thời gian qua, cơ quan thuế đã tích cực phối hợp với cơ quan công an phát hiện, điều tra, khởi tố một số vụ việc có phạm vi rộng, thủ đoạn tình vi làm thiệt hại cho ngân sách nhà nước mà các cơ quan truyền thông cũng có phản ánh. Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế phải ban hành nhiều chỉ đạo yêu cầu cơ quan thuế các cấp tăng cường công tác quản lý hóa đơn để phòng chống, ngăn ngừa tình trạng này.
Thứ ba, trao đổi thông tin với cơ quan thuế nước ngoài nói riêng và hợp tác quốc tế về thuế nói chung là một công cụ hữu hiệu phục vụ công tác quản lý thuế.
Việc trao đổi thông tin với cơ quan thuế nước ngoài là một trong những nguyên tắc đã được quy định tại Luật Quản lý thuế, là một hoạt động cần thiết đã và đang được thực hiện thường xuyên nhằm phục vụ công tác quản lý thuế. Trao đổi thông tin về thuế nói riêng và hợp tác quốc tế về thuế nói chung hiện nay đã trở thành xu thế không thể đảo ngược và đang ngày càng phát triển với nhiều hình thức hợp tác mới nhằm giải quyết các nguy cơ trốn thuế, gian lận về thuế và những thách thức rất lớn trong thời đại kinh tế số. Thông qua trao đổi thông tin về thuế,
b) Hóa đơn, chứng từ chưa có giá trị sử dụng, hết giá trị sử dụng;
c) Hóa đơn bị ngừng sử dụng trong thời gian bị cưỡng chế bằng biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn, trừ trường hợp được phép sử dụng theo thông báo của cơ quan thuế;
d) Hóa đơn điện tử không đăng ký sử dụng với cơ quan thuế;
e) Hóa đơn điện tử chưa có mã của cơ quan thuế đối với trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế;
f) Hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ có ngày lập trên hóa đơn từ ngày cơ quan thuế xác định bên bán không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
g) Hóa đơn, chứng từ mua hàng hóa, dịch vụ có ngày lập trên hóa đơn, chứng từ trước ngày xác định bên lập hóa đơn, chứng từ không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chưa có thông báo của cơ quan thuế về việc bên lập hóa đơn, chứng từ không hoạt động tại địa chỉ kinh doanh đã đăng ký với cơ quan có thẩm quyền nhưng cơ quan thuế hoặc cơ quan công an hoặc các cơ quan chức năng khác đã có kết luận đó là hóa đơn, chứng từ không hợp pháp.
2. Sử dụng hóa đơn, chứng từ trong các trường hợp sau đây là hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ:
a) Hóa đơn, chứng từ không ghi đầy đủ các nội dung bắt buộc theo quy định; hóa đơn tẩy xóa, sửa chữa không đúng quy định;
b) Hóa đơn, chứng từ không (hóa đơn, chứng từ đã ghi các chỉ tiêu, nội dung nghiệp vụ kinh tế nhưng việc mua bán hàng hóa, dịch vụ không có thật một phần hoặc toàn bộ); hóa đơn phản ánh không đúng giá trị thực tế phát sinh hoặc lập hóa đơn không, lập hóa đơn giả;
c) Hóa đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hóa, dịch vụ hoặc sai lệch các tiêu thức bắt buộc giữa các liên của hóa đơn;
d) Hóa đơn để quay vòng khi vận chuyển hàng hóa trong khâu lưu thông hoặc dùng hóa đơn của hàng hóa, dịch vụ này để chứng minh cho hàng hóa, dịch vụ khác;
e) Hóa đơn, chứng từ của tổ chức, cá nhân khác (trừ hóa đơn của cơ quan thuế và trường hợp được ủy nhiệm lập hóa đơn) để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc hàng hóa, dịch vụ bán ra;
f) Hóa đơn, chứng từ mà cơ quan thuế hoặc cơ quan công an hoặc các cơ quan chức năng khác đã kết luận là sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ.
cơ quan thuế các nước mới có thể nhìn nhận và đánh giá rủi ro tiềm tàng từ các giao dịch kinh tế xuyên biên giới mà bản thân từng cơ quan thuế riêng lẻ không thể thực hiện được.
Chính từ các kết quả trao đổi thông tin với cơ quan thuế nước ngoài (theo yêu cầu của phía cơ quan thuế Việt Nam hoặc do cơ quan thuế nước ngoài trao đổi tự nguyện), cơ quan thuế đã phát hiện và đấu tranh với nhiều hành vi vi phạm pháp luật về thuế, qua đó giúp thu vào ngân sách nhà nước hàng tỷ đồng. Việc không áp dụng trao đổi thông tin nghĩa là cơ quan thuế đã tự làm mất đi một công cụ hữu hiệu phục vụ quản lý nhà nước về thuế.
Thứ tư, áp dụng quy định pháp luật cần đảm bảo nguyên tắc bình đẳng và thống nhất.
Vấn đề Công ty An Phát đề nghị không công nhận kết quả trao đổi thông tin hoặc không thực hiện trao đổi thông tin như Hiệp hội Sản Việt Nam đã từng đề xuất tại các hội nghị đối thoại với cơ quan thuế trước đây là không phù hợp với thực tiễn quản lý thuế và trái quy định của Luật Quản lý thuế. Cần lưu ý rằng sử dụng thông tin trao đổi không phải là áp đặt hành vi phạm pháp luật cho người nộp thuế mà thông tin là cơ sở để cơ quan thuế rà soát, đánh giá rủi ro và lựa chọn áp dụng biện pháp nghiệp vụ phù hợp, trong đó có công tác phối hợp, đề nghị các cơ quan chức năng xác minh, điều tra nếu cần.
Nếu áp dụng riêng cho Công ty An Phát hoặc các công ty tương tự sẽ không đảm bảo sự công bằng đối với tất cả các doanh nghiệp khác, nhất là các trường hợp vi phạm pháp luật mà cơ quan thuế đã xử lý thông qua kết quả trao đổi thông tin với cơ quan thuế nước ngoài. Đặc biệt, trong bối cảnh thông tin trao đổi cho thấy đây là trường hợp có phát sinh vấn đề pháp lý quan trọng.
Thứ năm, cần có quan điểm và ứng xử nhất quán đối với quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài theo tinh thần "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ" của Thủ tướng Chính phủ.
Hiện nay, cùng với sự mở cửa ngày càng tăng của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam đang không ngừng mở rộng phạm vi giao thương với các doanh nghiệp/đối tác nước ngoài. Và hiển nhiên, rủi ro trong các hoạt động kinh tế này là không thể phủ nhận.
Điển hình như thời gian gần đây, khi các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu các mặt hàng nông sản bị đối tác nước ngoài lừa đảo thì các doanh nghiệp gửi đơn “cầu cứu” Chính phủ, lãnh đạo Chính phủ và rất nhiều bộ, ngành. Trên tinh thần hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp, lãnh đạo Chính phủ đã có những chỉ đạo kịp thời và yêu cầu các bộ, ngành hỗ trợ, can thiệp cả về mặt ngoại giao để giúp doanh nghiệp giảm thiểu thiệt hại.
Vậy câu hỏi đặt ra: Khi giao dịch với đối tác nước ngoài bị lừa đảo làm thiệt hại quyền lợi của doanh nghiệp thì Nhà nước phải huy động nhiều nguồn lực vào cuộc hỗ trợ cho doanh nghiệp; còn khi giao dịch với đối tác nước ngoài có dấu hiệu vi phạm pháp luật, làm thất thoát ngân sách nhà nước thì Nhà nước phải chấp nhận thiệt hại tiền thuế, doanh nghiệp hoàn toàn không chịu trách nhiệm?
Thứ sáu, pháp luật đã có cơ chế giải quyết tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan giải quyết thủ tục hành chính, giữa người nộp thuế với cơ quan thuế.
Việc bất đồng quan điểm giữa doanh nghiệp và cơ quan giải quyết thủ tục hành chính, giữa người nộp thuế với cơ quan thuế thực tế vẫn thường xuyên xảy ra. Điều này dẫn đến người nộp thuế có thể cho rằng quyết định hành chính của cơ quan thuế ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ và không đồng ý với quyết định của cơ quan thuế. Vấn đề này, pháp luật Việt Nam đã có đầy đủ cơ chế để giải quyết và phân xử. Quốc hội đã ban hành Luật Khiếu nại ngày 11/11/2011 và Luật Tố tụng hành chính ngày 25/11/2015. Trường hợp người nộp thuế đã thực hiện khiếu nại nhưng vẫn không đồng ý với cơ quan thuế thì có thể khởi kiện ra tòa hành chính, tại các quyết định giải quyết khiếu nại đều có nêu. Đây là hành xử văn minh nhưng Công ty đến nay không thực hiện.
Việc Công ty không thực hiện hết các quyền của mình theo quy định pháp luật mà liên tục có nhiều văn bản “cầu cứu” gửi các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành trình bày nhiều quan điểm bảo vệ lợi ích của Công ty nhưng nội dung báo cáo thể hiện không đầy đủ, chưa khách quan đã làm ảnh hưởng đến uy tín và thời gian, công việc thường xuyên của ngành tài chính và cơ quan thuế các cấp. Bộ Tài chính rất mong Ban Dân nguyện có ý kiến trao đổi để Công ty thực hiện theo đúng quy định pháp luật.
Trong công tác giải quyết hoàn thuế GTGT, Bộ Tài chính và cơ quan thuế các cấp đã triển khai rất nhiều các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ, kịp thời giải quyết hoàn thuế GTGT theo đúng quy định. Bộ Tài chính và cơ quan thuế luôn hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp và rất mong nhận được sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ, chia sẻ của các bộ, ban, ngành, chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong việc thực thi pháp luật thuế, tiếp tục phối hợp với cơ quan thuế trong việc phát hiện, phản ánh các trường hợp doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro để kịp thời xử lý theo quy định, góp phần chống thất thoát ngân sách nhà nước trong hoàn thuế GTGT và hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước giao.
Bộ Tài chính kính báo cáo Ban Dân nguyện tổng hợp, báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội./.