vanban.org

Điều 7. Mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc: — Chỉ thị 135/TTg

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 04/03/1997 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Thủ tướng Chính phủ Ban hành 04/03/1997 Hiệu lực 04/03/1997 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Chỉ thị 135/TTg › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc:

1. Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm tổ chức nghiên cứu xây dựng các đề án theo quy định tại khoản 3 Điều 6 của Quy chế này để trình Hội đồng quản trị và tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị. Trường hợp khi thực hiện Nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, phát hiện vấn đề không có lợi cho tổng công ty thì Tổng giám đốc báo cáo với Hội đồng quản trị để diều chỉnh lại Nghị quyết, quyết định. Nếu Hội đồng quản trị không điều chỉnh lại nghị quyết, quyết định thì Tổng giám đốc vẫn phải thực hiện, nhưng có quyền bảo lưu ý kiến và kiến nghị lên cấp trên.

2. Sau khi được Hội đồng quản trị thông qua các đề án theo quy định của Điều 6 trên đây, Tổng giám đốc được ký quyết định một số đề án theo quy định phân cấp.

3. Ngoài những công việc phải trình Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc có quyền chủ động quyết định điều hành sản xuất kinh doanh theo quy định phân cấp và phù hợp với quy trình làm việc được Hội đồng quản trị ban hành; Quyết định các biện pháp vượt thẩm quyền của mình trong trường hợp khẩn cấp (thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn, sự cố), hoặc những hợp đồng kinh tế lớn cần phải ký gấp không kịp triệu tập họp Hội đồng quản trị, nhưng chịu trách nhiệm về những quyết định đó, đồng thời phải báo cáo ngay cho Hội đồng quản trị và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đề giải quyết.

4. Hàng tháng, hàng quý, hàng năm Tổng giám đốc phải gửi báo cáo về tình hình hoạt động kinh doanh của tổng công ty cho Hội đồng quản trị (chậm nhất sau 15 ngày hết tháng hoặc quý), và phương hướng thực hiện trong kỳ tới, đồng thời gửi về Văn phòng Chính phủ các báo cáo đó.

5. Các cuộc họp chuẩn bị các đề án trình Hội đồng quản trị do Tổng giám đốc chủ trì, đều phải có thành viên Hội đồng quản trị liên quan tham dự để phối hợp chuẩn bị nội dung. Người đại diện Hội đồng quản trị có trách nhiệm đóng góp ý kiến nhưng không có quyền kết luận khi có những ý kiến còn khác nhau.

6. Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc đại diện của Hội đồng quản trị tham dự các buổi giao ban của tổng công ty.

7. Các cuộc khảo sát trong và ngoài nước, đàm phán, ký kết hợp đồng có giá trị lớn của tổng công ty, Tổng giám đốc có trách nhiệm báo cáo Chủ tịch Hội đồng quản trị để dự hoặc cử thành viên tham dự với tư cách tư vấn.

8. Các cuộc họp do các cơ quan liên quan mời tổng công ty (trừ những trường hợp mời đích danh), thì tuỳ theo tính chất từng cuộc họp để phân công cụ thể:

a. Những cuộc họp đặc biệt quan trọng có liên quan đến đổi mới tổ chức, cơ chế, chính sách, hướng phát triển trung, dài hạn hoặc xử lý những vấn đề đang vướng mắc lớn của tổng công ty thì Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc cùng dự hoặc một trong hai chức danh trên tham dự, sau đó thông báo lại cho nhau;

b. Những cuộc họp liên quan đến chủ trương chính sách có tính chất trước mắt hoặc điều hành, thì Tổng giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc tham dự, sau đó thông báo lại cho Chủ tịch Hội đồng quản trị. Nếu Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc không tham dự được, thì đại diện Hội đồng quản trị tham dự, sau đó thông báo lại cho Tổng giám đốc.