vanban.org

Quyết định 99/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Trần Thanh H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Trần Thanh H với Công ty TNHH G (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411055885) bị vô hiệu. Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411055885 không phải là ông Trần Thanh H, sinh năm 1992, giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Trần Thanh H - Công ty TNHH G"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Trần Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số:99/2025/QĐST-LĐ
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Thu Thảo

Thư ký phiên họp: Ông Thái Vương Triều – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 147/2025/TLST-LĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 57/2025/QĐST-LĐ ngày 18 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Thanh Đ, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã P, tỉnh Đồng Tháp), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty TNHH G; địa chỉ: 1 tổ C, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L; địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết ông Trần Thanh H trình bày: Khoảng tháng 7 năm 2024, ông Trần Thanh H đi làm thủ tục tại Bảo hiểm xã hội thì được biết bảo hiểm xã hội của ông H bị trùng trong khoảng thời gian từ tháng 08 năm 2011 đến tháng 7 năm 2014. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do vào khoảng tháng 8 năm 2011 ông Trần Thanh H có cho em ruột là ông Trần Thanh Đ mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G, quá trình làm việc ông Trần Thanh Đ được Công ty TNHH G tham gia bảo hiểm xã hội với mã số sổ bảo hiểm là 7411055885. Vì thiếu hiểu biết, nghĩ rằng việc cho ông Trần Thanh Đ mượn chứng minh nhân dân để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G là không vi phạm gì và chỉ mong muốn cho ông Trần Thanh Đ có công việc để trang trải cuộc sống. Vì vậy, ông H yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Trần Thanh H và Công ty TNHH G là vô hiệu. Ông Trần Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Thanh Đ trình bày: Ông và ông H có mối quan hệ là anh em ruột. Khoảng tháng 8 năm 2011, ông chưa đủ tuổi lao động nên đã mượn chứng minh nhân dân của ông H để xin vào làm việc tại Công ty TNHH G và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2014 với số sổ bảo hiểm xã hội là 7411055885. Nay ông Trần Thanh Đ thống nhất toàn bộ yêu cầu của ông H và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Trần Thanh H với Công ty TNHH G vô hiệu. Sau khi kết thúc hợp đồng lao động với Công ty TNHH G thì ông chưa nhận trợ cấp bảo hiểm gì, ông cũng không yêu cầu gì liên quan đến bảo hiểm trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông H, ông Trần Thanh Đ không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của Công ty TNHH G trình bày: Ông Trần Thanh H làm việc tại Công ty TNHH G từ ngày 01/8/2011 đến ngày 30/7/2014. Trong quá trình làm việc tại công ty đã chi trả lương cũng như tham gia Bảo hiểm xã hội đầy đủ đúng theo luật quy định cho ông Trần Thanh H. Đến ngày 01/8/2014 ông Trần Thanh H nghỉ việc và từ đó đến nay Công ty TNHH G không còn liên quan gì đến ông Trần Thanh H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở L (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH G cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho ông Trần Thanh H, sinh năm 1992, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7411055885 có quá trình tham gia BHXH từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2014 tại Công ty TNHH G, hiện công ty đã chốt sổ và chưa nhận trợ cấp BHXH một lần. Ngoài ra, qua tra cứu dữ liệu, BHXH cơ sở Lái Thiêu còn phát hiện vào khoảng thời gian từ tháng 06/2010 đến tháng 01/2012 ông H tham gia BHXH có mã số 7410190163 và từ tháng 7/2012 đến tháng 8/2025 có mã số 7412222255 cùng tại Công ty TNHH S hiện các công ty đã chốt sổ và chưa nhận trợ cấp BHXH một lần. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa ông Trần Thanh H và Công ty TNHH G, đề nghị Tòa án Căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Công ty TNHH G có giao kết lại hợp đồng lao động với người mượn hồ sơ hay không; về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của ông Trần Thanh H, BHXH không có lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của ông Trần Thanh H không có ý kiến.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của Ông Trần Thanh H là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu ông Trần Thanh H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Thanh Đ; Công ty TNHH G và B cơ sở L đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2014, người lao động tên Trần Thanh H giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G và được Công ty TNHH G tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7411055885. Tuy nhiên, ông H và ông Trần Thanh Đ đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G và thực tế làm việc tại công ty T khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2014 là ông Trần Thanh Đ (do ông H cho ông Trần Thanh Đ mượn chứng minh nhân dân).

Xét thấy, lời khai của ông Trần Thanh H, ông Trần Thanh Đ phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2014, ông H đang làm việc tại công ty khác. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2014 là ông Trần Thanh Đ, không phải là ông Trần Thanh H.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc ông Trần Thanh Đ mượn hồ sơ cá nhân của ông H để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7411055885 từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2014 tại Công ty TNHH G là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Trần Thanh H về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Trần Thanh H với Công ty TNHH G theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411055885 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của ông H và ý kiến của ông về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH G trong giai đoạn từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 7 năm 2014 là ông Trần Thanh Đ, không phải là ông Trần Thanh H. Ông H và ông Trần Thanh Đ có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7411055885.

kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Ông Trần Thanh H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39; Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Trần Thanh H.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Trần Thanh H với Công ty TNHH G (theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411055885) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411055885 không phải là ông Trần Thanh H, sinh năm 1992, giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Ông Trần Thanh H và ông Trần Thanh Đ được quyền liên hệ với B có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7411055885.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Trần Thanh H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0005053 ngày 23/7/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ