vanban.org

Quyết định 99/2021/QĐHG-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

Chị Phạm Thị Thu H; nơi cư trú: Đường P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng. Anh Lê Văn H; nơi cư trú: Đường P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
Số: 99/2021/QĐHG-HNGĐ
Quận Ngô Quyền, ngày 19 tháng 8 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thẩm phán ra quyết định: Bà Lê Thị Hậu

Căn cứ vào các điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả đối thoại tại Tòa án ngày 03 tháng 8 năm 2021 về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, giữa:

- Người yêu cầu:

Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Đường P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng.

Anh Lê Văn H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Đường P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải:

- Chị Phạm Thị Thu H; nơi cư trú: Đường P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng.

- Anh Lê Văn H; nơi cư trú: Đường P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng.

2. Công nhận kết quả đối thoại thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu H và anh Lê Văn H thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Chị Phạm Thị Thu H và anh Lê Văn H có 01 con chung là Lê Trà M, sinh ngày 18/8/2005. Ly hôn, chị H và anh H thỏa thuận giao con cho chị H nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị thỏa thuận, anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/tháng, kể từ tháng 8/2021 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày chị Phạm Thị Thu H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, anh Lê Văn H còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị Thu H và anh Lê Văn H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ