vanban.org

Quyết định 93/2026/QĐST-LĐ — Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 cua Bộ luật Tố tụng dân sự;

luật Lao động năm 2012; luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về việc thực hiện thoả ước lao động tập thể — án lao động — "ĐẶNG VĂN Đ"
  • Tòa quyết gì? 39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 cua Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 93/2026/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị H

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Tố U - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Bà Trần Thị Lý L - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số:

“

118/2026/LĐ-ST ngày 01/4/2026 về việc Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 79/2026/QĐST-LĐ ngày 10 tháng 4 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1992; nơi thường trú: Tổ A, ấp P, xã

C, tỉnh An Giang; chỗ ở: Nhà T, tổ C, khu phố M, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trương Văn H, sinh năm 1996; thường trú: Tổ A, ấp P, xã C, tỉnh An

Giang, có yêu cầu vắng mặt.

2. Công ty TNHH S; địa chỉ: D, khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu - Thành phố H; địa chỉ: Đường N, phường L,

Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải

quyết ông Đặng Văn Đ trình bày: Trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2025 ông làm việc tại Công ty TNHH C và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số: 7411119765. Nay ông làm thu tục tại Bảo hiểm xã hội thi được B cho biết ông bị trung thời gian tham gia bảo hiểm xã hội các thời sau như sau: Từ tháng 01/2011 đến tháng 05/2011 tại Công ty TNHH S và từ tháng 11/2011 đến 5/2013 tại Công ty TNHH V. Nguyên nhân bị trung bảo hiểm xã hội là do ông cho người em con cô cậu tên Trương Văn H mượn hồ sơ để làm việc tại Công ty TNHH S và Công ty TNHH V. Quá trinh làm việc, ông Trương Văn H được hai công ty trên tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội 7411042468. Vi thiếu hiểu biết, nên nghĩ việc cho mượn hồ sơ để ký kết hợp đồng lao động với hai công ty trên là không vi phạm gi và chỉ mong muốn cho người thân cua minh có công việc để trang trải cuộc sống. Vi vậy, ông Đặng Văn Đ yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Đặng Văn Đ và Công ty TNHH S trong khoảng thời gian từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 là vô hiệu. Ông Đặng Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

Đối với thời gian trung từ tháng 11/2011 đến 5/2013 tại Công ty TNHH V ông

đã khởi kiện thành vụ việc khác và Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh đang thụ lý.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn H trình bày: Ông và

ông Đ có mối quan hệ con cô cậu. Khoảng tháng 01/2011, ông có mượn hồ sơ cua ông Đ để xin vào làm việc tại Công ty TNHH S và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 với số sổ bảo hiểm xã hội 7411042468. Nay ông thống nhất toàn bộ yêu cầu cua ông Đ và đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Đặng Văn Đ và Công ty TNHH S vô hiệu. Ông H không yêu cầu giải quyết hậu quả cua hợp đồng vô hiệu và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH S đã được Tòa án thông

báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng đại diện Công ty không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên họp.

- Bảo hiểm xã hội cơ sở L (viết tắt là BHXH) trình bày:

Ông Đặng Văn Đ sinh ngày 06/02/1992, số CMND xxxxxxxxx CCCD

xxxxxxxxxxxx được Công ty TNHH S tham gia bảo hiểm xã hội với mã số BHXH 7411042468 có quá trinh tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011, cung mã số BHXH 7411042468 trên ông Đ tiếp tục tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ 11/2011 đến tháng 5/2013 tại Công ty TNHH V. Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, BHXH cơ sở Lái Thiêu còn có thông tin ông Đặng Văn Đ còn có mã số BHXH 7411119765 tham gia từ tháng 04/2011 đến tháng 01/2025 tại Công ty TNHH C.

Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa ông Đặng Văn Đ

và Công ty TNHH S từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trinh tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông H, BHXH cơ sở Lái Thiêu đã chấp hành theo đúng quy định cua pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu cua ông Đặng Văn Đ là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về thu tục tố tụng: Người yêu cầu ông Đặng Văn Đ; ông Trương Văn H, người

đại diện cua Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu có yêu cầu giải quyết vắng mặt;

Công ty TNHH S vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng

Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu cua đương sự:

Trong thời gian tháng 01/2011 đến tháng 5/2011, người lao động tên Đặng

Văn Đ giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S và được Công ty TNHH S tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7411042468. Tuy nhiên, ông Đ và ông H thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH S và thực tế làm việc tại công ty trong khoảng thời gian tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 là ông Trương Văn H.

Xét thấy, lời khai cua ông Đ, ông H là phu hợp với xác nhận cua Bảo hiểm

xã hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian tháng 01/2011 đến tháng 5/2011, ông Đ đang làm việc tại Công ty TNHH L, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 7411119765. Như vậy, chu thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH S trong khoảng thời gian tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 là ông Trương Văn H, không phải là ông Đặng Văn Đ.

Theo khoản 1 Điều 17 cua Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 cua

Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 cua Bộ luật Lao động năm 2012, thi: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 cua Bộ luật Lao động năm 2019, thi: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 cua Bộ luật Lao động năm 2012, thi: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 cua Bộ luật Lao động năm 2019, thi: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ cua người khác để giao kết hợp đồng lao động cua Bộ L thi: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc ông Trương Văn H mượn hồ sơ cá nhân cua ông Đặng Văn Đ để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH là 7411042468 từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 tại Công ty TNHH S là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu cua ông Đặng Văn

Đ về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Đặng Văn Đ với Công ty TNHH S trong thời gian từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411042468 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 cua Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu

cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu cua ông Đặng Văn Đ về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH S từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 là ông Trương Văn H, không phải là ông Đặng Văn Đ. Ông Đ, ông H có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7411042468.

Đối với thời gian trung từ tháng 11/2011 đến 5/2013 tại Công ty TNHH V

theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411042468 đã được giải quyết bằng quyết định sơ thẩm giải quyết việc lao động số 83/2026/QĐST-LĐ ngày 15/4/2026 cua Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh, nên các đương sự không yêu cầu trong vụ án trên là phu hợp.

Y kiến cua đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thu tục tố

tụng, quá trinh tiến hành tố tụng cung như diễn biến tại phiên họp là phu hợp với quy định cua pháp luật.

Về lệ phí: Ông Đặng Văn Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghin đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 cua Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 cua Bộ

luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 cua Bộ

luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cua

Uy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động cua ông Đặng Văn Đ.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Đặng Văn Đ với Công ty TNHH S

trong thời gian từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411042468 bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7411042468 trong thời

gian từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011 không phải là ông Ông Đặng Văn Đ sinh ngày 06/02/1992, số CMND xxxxxxxxx, CCCD xxxxxxxxxxxx.

- Ông Đặng Văn Đ và ông Trương Văn H được quyền liên hệ với C có thẩm

quyền để tiến hành thu tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7411042468 trong thời gian từ tháng 01/2011 đến tháng 5/2011.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Đặng Văn Đ phải chịu

300.000đ (ba trăm nghin đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0018563 ngày 26/3/2026 cua Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cung cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 cua Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ