vanban.org

Quyết định 91/QĐ-TA

TAND TX. Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Tuyên án 29/11/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Hà Văn T.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày Hà Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Địa chỉ chấp hành Quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái: Tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định cai nghiện bắt buộc Hà Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Hà Văn T.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 91/QĐ-TANghĩa Lộ, ngày 29 tháng 11 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán- Chủ trì phiên họp: Ông Đặng Quốc H.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lê Thúy Ngân.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: /QĐ-TA ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Hà Văn T, sinh ngày 05/9/1990; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường. CCCD số: 015090000277. Ngày cấp: 24/3/2021. Nơi cấp: Cục C về TTXH, Bộ C1. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Nguyên quán: Thị xã N, tỉnh Yên Bái. ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Tiền án, tiền sự: Không. Con ông Hà Văn H1, 72 tuổi và bà Hà Thị D, 67 tuổi.

(Vắng mặt tại phiên họp).

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Hà Văn T1- Phó Phòng LĐ-TBXH thị xã N, tỉnh Yên Bái.

2. Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái: Bà Hà Thị Nguyên Nhung- Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Hà Văn T là đối tượng nghiện ma túy (Heroine) từ năm 2020. Ngày 29/10/2024 Công an xã N, thị xã N phối hợp với Trạm y tế xã Nghĩa Lợi xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Hà Văn T cho kết quả dương tính. Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai cùng ngày 29/10/2024, Hà Văn T thừa nhận có sử dụng ma túy, loại Heroine, bằng hình thức hít vào cơ thể, lần sử dụng gần đây nhất vào ngày 29/10/2024.

Ngày 05/11/2024, Công an xã N ra Thông báo số 29/TB - CAX về tình trạng nghiện ma túy và yêu cầu Hà Văn T làm thủ tục đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP của Chính phủ nhưng Hà Văn T không thực hiện. Ngày 12/11/2024 Công an xã N đã tiến hành lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với T về hành vi theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy năm 2021 và ra Thông báo số 35/TB-CAX ngày 15/11/2024 về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T.

Ngày 22/11/2024, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã N, có Văn bản số: 382/ĐN-CNBB chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T.

Tại phiên họp:

- Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thị xã N đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người bị đề nghị Hà Văn T, thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Hà Văn T đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Đại diện phòng LĐTB & XH thị xã N.

XÉT THẤY:

Ngày 22/11/2024, Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ thụ lý hồ sơ số 91/2024/XLHC, đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý hồ sơ và Quyết định mở phiên họp cho Hà Văn T hợp lệ, nhưng tại phiên họp Hà Văn T vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022, Toà án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ vẫn tiến hành phiên họp theo thủ tục chung.

Xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T đã bảo đảm tính hợp pháp và đầy đủ, theo quy định tại Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ.

Hà Văn T là người có nơi cư trú ổn định, sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020, bản thân Tưởng đang bị UBND xã N áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 137/QĐ-UBND ngày 23/3/2024. Hà Văn T nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, có những tác động xấu đến bản thân, gia đình và xã hội, nhưng vì thiếu ý thức tôn trọng pháp luật, T vẫn sử dụng trái phép chất ma túy đến mức nghiện là vi phạm khoản 5 Điều 5 Luật phòng chống ma túy; đã được tạo điều kiện cho đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị cai nghiện các dạng chất thuốc phiện thay thế nhưng T không thực hiện là vi phạm điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Do đó, cần phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về nhân thân: Hà Văn T là người sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2020. Đang bị UBND xã N áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng T không có ý thức tự rèn luyện để từ bỏ ma túy mà tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện là người có nhân thân xấu.

Tuy nhiên, trong quá trình thu thập chứng cứ để lập hồ sơ Hà Văn T đã thành khẩn khai báo hành vi vi phạm của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính cần xem xét áp dụng đối với người bị đề nghị.

Với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính và nhân thân như trên, xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian nhất định là cần thiết, đồng thời tạo điều kiện cho Hà Văn T cai nghiện ma túy có kết quả, trở thành công dân có ích cho xã hội.

- Ý kiến của Đại diện Phòng L và ý kiến của Kiểm sát viên nhất trí đề nghị đưa Hà Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

- Căn cứ các Điều 95, 96, 105, 110, khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

- Căn cứ Điều 3, khoản 2 Điều 20, Điều 23 và Điều 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

- Căn cứ Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Hà Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày Hà Văn T bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Địa chỉ chấp hành Quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái: Tổ A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái.

3. Hà Văn T có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án; Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã N có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị xã N phối hợp với Công an thị xã N thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ