- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Vũ Thị Lan yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? 39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 91/2025/QĐST-VLĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 8 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Chu Thị Vân.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Duy Long - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực
16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16, Thành
phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ
“ lý số: 188/2025/TLST-VLĐ ngày 05 tháng 8 năm 2025 về việc Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 77/2025/QĐST-VLĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Vũ Thị L, sinh năm: 1984; thường trú: Thôn A, xã A,
huyện Q, tỉnh Thái Bình (nay là xã T, tỉnh Hưng Yên); địa chỉ liên hệ: Số B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là số B, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ); địa chỉ: Số E, Xa lộ X, khu
phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là Số E, Xa lộ X, khu phố B, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
2. Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1993; thường trú: Số A, thôn Đ, thị trấn Y,
huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là số A, thôn Đ, xã Y, tỉnh Ninh Bình). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội cơ sở D, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Đường T,
khu T, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T, sinh năm 1988; chức vụ:
chuyên viên Bảo hiểm xã hội cơ sở D; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 19/8/2025). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình
giải quyết bà Vũ Thị L trình bày: Tháng 11/2009, bà Vũ Thị L làm việc tại Công ty TNHH A và tham gia bảo hiểm xã hội mã số 9104032838. Từ tháng 7/2023, bà L đến Bảo hiểm xã hội thành phố D (nay là Bảo hiểm xã hội cơ sở D) thì được biết bà bị trùng bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ tháng 11/2009 đến tháng 7/2011. Nguyên nhân bị trùng bảo hiểm xã hội là do trong khoảng thời gian từ tháng 11/2009 đến tháng 7/2011, bà L đã cho em gái là Vũ Thị L1 mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm tại Công ty Cổ phần Đ (nay là Công ty Cổ phần C) và được tham gia bảo hiểm xã hội mã số 7409312946. Do thiếu hiểu biết về pháp luật nên bà L đã cho bà L1 mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm, có thu nhập nuôi sống bản thân chứ không vì tư lợi nào khác. Để đảm bảo quyền lợi bảo hiểm xã hội, bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Vũ Thị L và Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) là vô hiệu. Bà Vũ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị L1 trình bày: Bà L1
và bà L là chị em. Khoảng tháng 11/2009, bà L1 chưa đủ 18 tuổi nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà Vũ Thị L để xin việc làm, có thu nhập nuôi sống bản thân và phụ giúp gia đình. Bà L1 đã sử dụng chứng minh nhân dân của bà Vũ Thị L để ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần Đ và tham gia bảo hiểm xã hội mã số 7409312946. Bà L1 làm việc tại Công ty Cổ phần Đ đến tháng 7/2011 thì nghỉ việc. Nay để đảm bảo quyền lợi về bảo hiểm của bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị L1 đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động theo đơn yêu cầu của bà Vũ Thị L. Bà L1 không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Ông Dương Văn T là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở D (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Vũ Thị L, với mã số BHXH 7409312946 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 11/2009 đến tháng 7/2011 tại Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ). Ngoài ra qua tra cứu dữ liệu, BHXH cơ sở Dĩ An còn phát hiện bà Vũ Thị L còn có mã số 9104032838 từ tháng 11/2009 đến tháng 7/2011 tại Công ty TNHH A. Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa bà Vũ Thị L và Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ), đề nghị Tòa án Căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) có giao kết lại hợp đồng lao động với người mượn hồ sơ hay không. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của bà Vũ Thị L, BHXH không lưu trữ những hồ sơ này. Về các yêu cầu khác của bà Vũ Thị L không có ý kiến.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần C (trước đây là
Công ty Cổ phần Đ) không cung cấp ý kiến và tài liệu chứng cứ để Tòa án xem xét.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố
Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Người yêu cầu bà Vũ Thị L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị L1 và Bảo hiểm xã hội cơ sở D có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự là phù hợp.Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Vũ Thị L là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Vũ Thị L, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị L1 và người đại diện theo ủy quyền của Bảo hiểm xã hội cơ sở D có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Trong thời gian từ tháng 11/2009 đến tháng 7/2011, người lao động
tên Vũ Thị L giao kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) và được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7409312946. Tuy nhiên, bà L và bà L1 đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) và thực tế làm việc tại công ty T1 khoảng thời gian từ tháng 11/2009 đến tháng 7/2011 là bà Vũ Thị L1 (do bà L cho bà L1 mượn chứng minh nhân dân để xin việc làm).
Xét thấy, lời khai của bà L, bà L1 phù hợp với xác nhận của Bảo
hiểm xã hội cơ sở D. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 11/2009 đến tháng 7/2011, bà L đang làm việc tại Công ty TNHH A và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 9104032838. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) trong khoảng thời gian tháng 11/2009 đến tháng 7/2011 là bà Vũ Thị L1, không phải là bà Vũ Thị L.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15
của Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L2 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà Vũ Thị L1 mượn hồ sơ cá nhân của bà Vũ Thị L để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7409312946 từ tháng 11/2009 đến tháng 7/2011 tại Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Vũ
Thị L về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Vũ Thị L với Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409312946 bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem
xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu: “... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị L về việc xác định người lao động tại Công ty Cổ phần C (trước đây là Công ty Cổ phần Đ) trong giai đoạn từ tháng 11/2009 đến tháng 7/2011 là bà Vũ Thị L1, không phải là bà Vũ Thị L. Bà L và bà L1 có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409312946.
Y kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16, Thành phố
Hồ Chí Minh về nội dung việc lao động, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diên biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Vũ Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33, điểm d khoản 2 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều
39, các Điều 146, 149, 361, 366, 367, 370, 371, 372, 401 và 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17, khoản 2 Điều 19, Điều 50, Điều 51 và Điều 52
của Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15, khoản 2 Điều 16, các Điều 49, 50 và 51 của Bộ
luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Uy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miên, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Vũ Thị L.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Vũ Thị L với Công ty Cổ phần C
(trước đây là Công ty Cổ phần Đ) [Theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409312946] bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409312946 không
phải là bà Vũ Thị L, sinh năm 1984, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx. Bà Vũ Thị L và bà Vũ Thị L1 được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409312946.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Vũ Thị L phải chịu
300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0006224 ngày 29/7/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng
cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 16, TP.Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16, TP.Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: VP, HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Chu Thị Vân |