- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Võ Văn Thanh B 08 (tám) tháng 17 (mười bảy) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2021 như vậy bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2021/HSST Ngày: 20/10/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Thị Lệ Thu – Chuyên viên Ban tổ chức Quận 7;
Ông Ngô Hữu Quang – Chuyên viên Phòng giáo dục và đào tạo Quận 7.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Loan - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên
Trong ngày 20 tháng 10 năm 2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 50/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Võ Văn Thanh B, sinh ngày 15 tháng 7 năm 2004 tại tỉnh Bến Tre; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: ấp Tân T 3, xã Thanh T, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Trần Văn R, sinh năm 1959 và con bà Võ Thị L (chết); Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 06/02/2021. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Văn Thanh B: Ông Vũ Hữu Thiên A là Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Phú Mỹ T, Đoàn luật sư Tp. Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Võ Văn Thanh B: Ông Trần Văn R, sinh năm 1959; Hộ khẩu thường trú: Số A đường Hà Huy G, phường Thanh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị hại: Bà Diệp Thị Thùy D, sinh năm 1997; địa chỉ: Số B Đường số 43, phường Tân Quy, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Công ty TNHH MTV Thành Đ Quận 12; địa chỉ trụ sở: Số C đường Nguyễn Ảnh T, phường Hiệp Thành, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hùng S, sinh năm 1958; địa chỉ: Số C đường Nguyễn Ảnh T, phường Hiệp Thành, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
2. Ông Nguyễn An V; địa chỉ: Số D đường Phạm Văn H, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày 04/02/2021, bà Diệp Thị Thùy D phát hiện xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số: 47D1-X, trong cốp xe có để giấy chứng nhận ký xe mô tô, xe máy số: 025747 để trong hầm Siêu thị Big C, địa chỉ: 99 Nguyễn Thị Thập, phường Tân Phú, Quận 7 bị mất trộm. Qua trích xuất camera phát hiện Võ Văn Thanh B là nhân viên bảo vệ của Siêu thị nghi vấn. Bà D đến Công an phường Tân Phú, Quận 7 trình báo.
Đến ngày 05/02/2021, Công an phường Tân Phú, Quận 7 mời Võ Văn Thanh B về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, Võ Văn Thanh B khai nhận: Vào ngày 31/01/2021, B nhặt được chìa khóa thông minh tại sàn tầng hầm để xe của Siêu thị Big C, sau đó B bấm nút tìm kiếm thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số: 47D1-X sáng đèn nên nảy sinh ý định trộm cắp xe trên bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 21 giờ ngày 04/02/2021, B xuống tầng hầm để xe của Siêu Thị Big C để lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số: 47D1- X của bà D điều khiển về nhà trọ địa chỉ: A Hà Huy G, phường Thạnh Xuân Quận 12. Đến khoảng 09 giờ ngày 05/02/2021, B điều khiển xe trộm cắp được đến Công ty TNHH TM DV Thành Đ Quận 12, địa chỉ: C Nguyễn Ảnh T, phường Hiệp Thành, Quận 12 bán giá 18.000.000 đồng (có làm giấy mua bán viết tay), sau đó B mua lại 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đen xanh, biển số: 59N2-Y tại cửa hàng với giá 9.000.000 đồng. Còn lại 9.000.000 đồng, trong đó 8.000.000 đồng B để ở nhà trọ Quận 12; 1.000.000 đồng sửa xe và tiêu xài hết. Qua truy xét ngày 06/02/2021, Công an Quận 7 ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp Võ Văn Thanh B về hành vi trộm cắp tài sản.
Kết luận định giá tài sản số: 47/KL-HĐĐGTTHS ngày 26/02/2021 kết luận: trị giá xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số: 47D1-X là 20.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, Võ Văn Thanh B khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKSQ7 ngày 20/4/2021, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố bị cáo Võ Văn Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bình từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.
Đề nghị xử lý vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số: 47D1-X, số khung: 5834JY044732, số máy: JF86E2044768. Kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu là bà Diệp Thị Thùy D. Bà D khai xe trên do Võ Văn Thanh B lấy trộm vào ngày 04/02/2021 tại Quận 7; 01 giấy mua bán xe số: 09/03 nội dung: giấy mua xe, Võ Văn Thanh B bán xe Vision màu đen xám, biển số: 47D1-X cho Nguyễn Hùng S với giá 18.000.000 đồng. Xe mô tô và giấy tờ trên thu giữ của ông Nguyễn Hùng S. Ngày 08/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 ra quyết định xử lý vật chứng trả xe mô tô và giấy đăng ký cho bà Diệp Thị Thùy D là có căn cứ nên đề nghị ghi nhận.
- Thu giữ của bị cáo B bao gồm:
+ Số tiền 8.000.000 đồng. Số tiền trên là do bị cáo B bán tài sản trộm cắp có được. Xét, ông Nguyễn Hùng S yêu cầu bị cáo B trả lại cho ông số tiền 18.000.000 đồng mà ông đã mua xe của bị cáo nên có căn cứ đề nghị trả lại cho ông S số tiền 8.000.000 đồng để khắc phục một phần trách nhiệm dân sự.
+ 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đen xanh, biển số: 59N2-Y, số khung: 250Y-034674, số máy: C52E-6097055 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số: 044237 mang tên Nguyễn An V. Kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu là ông Nguyễn An V. Ông V khai xe trên đã bán vào năm 2015 cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), do xe ông đã bán và lấy tiền nên ông không có yêu cầu gì đối với xe trên. Tháng 11/2020, ông Nguyễn Hùng S là chủ sở hữu, đại diện pháp luật Công ty TNHH TM DV Thành Đ Quận 12 mua xe với giá 8.500.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán xe. Bị cáo B dùng tiền bán xe trộm cắp để mua xe mô tô trên của ông S với giá 9.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 đã thông báo tìm chủ sở hữu. Đề nghị tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu một thời gian nếu tìm được thì trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp không tìm được thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho ông S số tiền 10.000.000 đồng.
- Người bào chữa cho bị cáo Võ Văn Thanh B là ông Vũ Hữu Thiên A trình bày:
Thống nhất về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã đề nghị đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng thêm điểm h Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử bị cáo thời hạn tù bằng thời gian đã tạm giam.
Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt ở trên, không tự bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, luật sư, các đương sự có mặt tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa kết hợp các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ xét có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Võ Văn Thanh B thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số: 47D1- X, tài sản bị chiếm đoạt trị giá 20.000.000 đồng của bà Diệp Thị Thùy D một cách trái pháp luật. Hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Bị cáo phạm tội do tham lam tư lợi, lười nhác lao động. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xem xét xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo lúc phạm tội là người dưới 18 tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 90; Điều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với ông Nguyễn Hùng S mua tài sản do B bán, do không biết tài sản B bán là tài sản do trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 không có căn cứ xử lý ông S về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, là có căn cứ nên không xét.
Xử lý vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số: 47D1-X, số khung: 5834JY044732, số máy: JF86E2044768. Kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu là bà Diệp Thị Thùy D. Bà D khai xe trên do Võ Văn Thanh B lấy trộm vào ngày 04/02/2021 tại Quận 7; 01 giấy mua bán xe số: 09/03 nội dung: giấy mua xe, Võ Văn Thanh B bán xe Vision màu đen xám, biển số: 47D1-X cho Nguyễn Hùng S với giá 18.000.000 đồng. Xe mô tô và giấy tờ trên thu giữ của ông Nguyễn Hùng S. Ngày 08/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 ra quyết định xử lý vật chứng trả xe mô tô và giấy đăng ký cho bà Diệp Thị Thùy D là có căn cứ nên không xét.
- Thu giữ của bị cáo B bao gồm:
+ Số tiền 8.000.000 đồng là do bị cáo B bán tài sản trộm cắp có được. Xét, ông Nguyễn Hùng S yêu cầu bị cáo B trả lại cho ông số tiền 18.000.000 đồng mà ông đã mua xe của bị cáo nên có căn cứ trả lại cho ông S số tiền 8.000.000 đồng để khắc phục một phần trách nhiệm dân sự.
+ 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đen xanh, biển số: 59N2-Y, số khung: 250Y-034674, số máy: C52E-6097055 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số: 044237 mang tên Nguyễn An V. Kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu là ông Nguyễn An V. Ông V khai xe trên đã bán vào năm 2015 cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), do xe ông đã bán và lấy tiền nên ông không có yêu cầu gì đối với xe trên. Tháng 11/2020, ông Nguyễn Hùng S là chủ sở hữu, đại diện pháp luật Công ty TNHH TM DV Thành Đ Quận 12 mua xe với giá 8.500.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán xe. Bị cáo B dùng tiền bán xe trộm cắp để mua xe mô tô trên của ông S với giá 9.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 đã thông báo tìm chủ sở hữu. Xét tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu một thời gian nếu tìm được thì trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp không tìm được thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về phần trách nhiệm dân sự:
- Bà Diệp Thị Thùy D đã nhận lại tài sản và quá trình giải quyết vụ án không yêu cầu gì khác, tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên không xét.
- Trong quá trình điều tra ông Nguyễn Hùng S là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Thành Đ Quận 12 yêu cầu bị cáo B trả lại cho ông số tiền 18.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông S yêu cầu nhận lại số tiền 8.000.000 đồng thu gữ của bị cáo B đã được Hội đồng xét xử chấp nhận ở phần xử lý vật chứng vụ án. Bị cáo B đồng ý bồi thường số tiền còn lại là 10.000.000 đồng cho ông Nguyễn Hùng S nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91, Điều 98 và Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Võ Văn Thanh B 08 (tám) tháng 17 (mười bảy) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/02/2021 như vậy bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Trả tự do cho bị cáo B tại phiên tòa nếu bị cáo không phạm tội nào khác.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- Trả lại: Số tiền 8.000.000 đồng (thu giữ của bị cáo B) cho ông Nguyễn Hùng S là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Thành Đ Quận 12.
- Tiếp tục đăng tin tìm chủ sở hữu trong thời gian 30 (ba mươi) ngày đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng đen xanh, biển số: 59N2-Y và Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 044237 nếu tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại, không tìm được thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
(theo các Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 78 ngày 24/4/2021 và giấy nộp tiền vào ngân sách 22/3/2021).
Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 30; Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Võ Văn Thanh B phải bồi thường cho ông Nguyễn Hùng S là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH MTV Thành Đ Quận 12 số tiền 10.000.000 đồng.
Kể từ ngày Cơ quan Thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án về khoản tiền các bị cáo phải bồi thường nếu các bị cáo chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo B phải nộp là 500.000 đồng.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/10/2021), bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; - VKSND Quận 7; THẨM - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Sở Tư pháp Quận 7; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu sổ án; - Lưu hồ sơ, (TK. Thúy Loan). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Chí Hiếu |