- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 673/2023/QĐST-HNGĐ | Tân Bình, ngày 25 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Điều 212; Điều 213 và khoản 4 Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 và Điều 86 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số: 578/2023/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1/. Bà Phạm Thị Huỳnh M, sinh năm 1981; địa chỉ: Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/. Ông Lê Thanh B, sinh năm 1976; địa chỉ: Phường A, quận B, Thành
phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn: Bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B tự nguyện chung sống từ năm 2007, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40, Quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 04 tháng 4 năm 2007.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không còn tiếng nói chung. Mặc dù vợ chồng đã ngồi lại với nhau nhiều lần và cho nhau nhiều cơ hội để hàn gắn nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn lại tiếp tục.
Nay, bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn để giải thoát cho nhau là có cơ sở, cần được chấp nhận.
Về con chung: Ông Lê Thanh B giao Lê Phạm Phương L, sinh ngày 19
tháng 7 năm 2007 và Lê Phạm Khánh L, sinh ngày 29 tháng 3 năm 2016 cho bà Phạm Thị Huỳnh M trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể
thay đổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở
người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui
định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B cùng khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B cùng khai không có.
Về lệ phí Tòa án: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B nộp theo quy định của pháp luật.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B thuận tình ly hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 40, Quyển số 01/2007 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 04 tháng 4 năm 2007).
- Về con chung: Ông Lê Thanh B giao Lê Phạm Phương L, sinh ngày 19
tháng 7 năm 2007 và Lê Phạm Khánh L, sinh ngày 29 tháng 3 năm 2016 cho bà Phạm Thị Huỳnh M trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể
thay đổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không
ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở
người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định
tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B tự thỏa
thuận.
- Về nợ chung: Bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B cùng khai không có.
- Về lệ phí Tòa án: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B nộp, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí mà bà Phạm Thị Huỳnh M và ông Lê Thanh B đã nộp theo Biên lai thu số: AA/2023/0023270 ngày 29 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình; - Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang (để xóa sổ bộ); - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN Trần Văn Long |