vanban.org

Quyết định 66/2023/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh P. T. T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”.

Tuyên bố ông P. T. K, sinh năm 1974, địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ nơi cư trú: khu phố G.T, phường L. G, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là người mất năng lực hành vi dân sự. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh P. T. T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "anh P. T. T yêu cầu tuyên bố ông P. T. K mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh P. T. T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”.
  • Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 66/2023/QĐST-DSTrảng Bàng, ngày 30 tháng 8 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Yến.

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Thị Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Hồng Đào – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 54/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 48/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh P. T. T, sinh năm 2000; địa chỉ: khu phố G.T, phường L. G, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà N. T. N, sinh năm 1975; địa chỉ: khu phố G.T, phường L. G, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Anh P. T. K, sinh năm 1998; địa chỉ: khu phố G.T, phường L. G, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án án giải quyết: Yêu cầu tuyên bố ông P. T. K, sinh năm 1974, địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ nơi cư trú: khu phố G.T, phường L. G, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là người mất năng lực hành vi dân sự.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và các lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu – anh P. T. T trình bày:

Anh là con ruột của ông P. T. K, sinh năm 1974. Mẹ anh là bà N. T. N, sinh năm 1975. Cha mẹ anh có 02 người con gồm anh và anh P. T. K, sinh năm 1998. Vào năm 2021, cha anh bị tai nạn giao thông dẫn đến bị chấn thương sọ não phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa Xuyên Á – Gò Dầu – Tây Ninh thời gian khoảng 01 tháng. Sau khi cha anh xuất viện về sức khỏe của cha anh bị giảm sút, tinh thần không còn minh mẫn, tỉnh táo nhưng vẫn còn đi lại được và tự chủ được về vấn đề vệ sinh cá nhân. Đến năm 2022, cha anh bị tai nạn giao thông lần thứ hai dẫn đến bị phù não, tụ máu não, gãy xương sườn, nằm liệt một chỗ và không nhận thức được. Hiện tại, ông K bị liệt nửa người bên trái, không nói được, mọi sinh hoạt cá nhân đều phụ thuộc toàn bộ vào người khác. Sau khi bà nội anh chết có để lại tài sản là quyền sử dụng đất, nay ông nội và các bác của anh muốn làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho cha anh nhưng cha anh hiện không có khả năng nhận thức, không thể làm thủ tục khai nhận di sản được. Vì vậy, nay anh yêu cầu Toà án tuyên bố cha anh là ông P. T. K, sinh năm 1974 là người mất năng lực hành vi dân sự để anh và anh trai anh làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà N. T. N và anh P. T. K thống nhất toàn bộ lời trình bày của anh T và đồng ý yêu cầu tuyên bố ông P. T. K mất năng lực hành vi dân sự.

* Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc giải quyết việc dân sự; người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết việc dân sự: căn cứ Điều 22 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng giải quyết việc dân sự chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của anh P. T. T. Tuyên bố ông P. T. K, sinh năm 1974, ngụ khu phố G.T, phường L. G, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: anh T yêu cầu tuyên bố ông P. T. K mất năng lực hành vi dân sự nên đây là việc dân sự về “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông K có nơi cư trú tại khu phố G.T, phường L. G, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu: Xét yêu cầu của anh T, thấy rằng: sau khi thụ lý việc yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của anh P. T. T đối với ông P. T. K, ngày 03/7/2023, Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng ra Quyết định trưng cầu giám định số 22/2023/QĐ-TA Trưng cầu Viện Pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hoà hực hiện giám định năng lực hành vi dân sự của ông P. T. K.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 521/KL-VPYTW ngày 21/7/2023 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hoà kết luận: ông P. T. K mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, có đủ cơ sở để tuyên bố ông P. T. K bị mất năng lực hành vi dân sự theo Điều 22 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về lệ phí: anh P. T. T phải chịu lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về chi phí trưng cầu giám định: anh P. T. T phải chịu chi phí trưng cầu giám định theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là có căn cứ nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 367, 369, 370, 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 22 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Chấp nhận yêu cầu của anh P. T. T về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”.

Tuyên bố ông P. T. K, sinh năm 1974, địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú và địa chỉ nơi cư trú: khu phố G.T, phường L. G, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là người mất năng lực hành vi dân sự.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh P. T. T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh T đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0027334 ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận anh T đã nộp xong lệ phí.

3. Về chi phí trưng cầu giám định: anh P. T. T phải chịu 4.333.750 (Bốn triệu ba trăm ba mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi) đồng chi phí giám định pháp y tâm thần, ghi nhận anh T đã nộp xong chi phí giám định.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Anh T, bà Nở, anh Kiên có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Cỡ chữ