- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Việc HNGĐ T - C"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị T và anh Phan Danh C.
- Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 65 /2022/QĐST - HNGĐ | Hà Tĩnh, ngày 08 tháng 7 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Bà Trịnh Thị Thiện
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hạnh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 102/2022/TLST
- HNGĐ ngày 03/6/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 62/2022/QĐ-TA ngày 23/6/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau:
Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
- Chị Võ Thị T, HKTT: Khối 1, Thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Chổ ở hiện nay: Xóm 9, xã T, huyện L, tỉnh Nghệ An;
- Anh Phan Danh C; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khối 1, Thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. (Hiện đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đức - Vắng mặt tại phiên họp).
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Võ Thị T trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị T và anh Phan Danh C đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 29/10/2014 tại Ủy ban nhân dân Thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng C sống hạnh phúc. Tuy nhiên, do cuộc sống gia đình khó khăn, năm 2018, anh C đi xuất khẩu lao động sang Đức. Quá trình anh C lao động tại nước ngoài giữa vợ chồng thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau. Hiện tại, cả hai đều nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.
Về con C: Vợ chồng có 01 con C cháu Phan Danh Việt A, sinh ngày 22/02/2015. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con C, tại nội dung đơn khởi kiện chị T không yêu cầu anh C đóng góp cấp dưỡng nuôi con C, quá trình Tòa án giải quyết vụ án chị T và anh C thống nhất anh C đóng góp mức cấp dưỡng nuôi con C cùng chị T là 3.000.000đ/tháng kể từ khi ly hôn cho đến cháu Việt A đến tuổi trưởng thành (đủ tròn 18 tuổi).
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Phan Danh C, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và được người thân của anh nhận thay. Quá trình xác minh người thân của anh C cung cấp thông tin hiện nay anh đang lao động tại cộng hòa liên bang Đức nhưng không có địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho tòa án. Anh C cũng đã biết được việc chị T làm đơn xin ly hôn và anh cũng hoàn toàn nhất trí như yêu cầu ly hôn của chị T.
Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 26/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, Công văn số 253 ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao: Về tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị T và anh Phan Danh C; về con C: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Võ Thị T và anh Phan Danh C: Giao con C Phan Danh Việt A, sinh ngày 22/02/2015 cho chị Võ Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh C đóng góp cấp dưỡng nuôi con C mỗi tháng 3.000.000đ kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu Việt A trưởng thành (đủ 18 tuổi); anh C có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con C không ai có quyền ngăn cấm, cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của chị Võ Thị T và anh Phan Danh C, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tại Công văn số 10357/QLXNC-P5 ngày 20/5/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an thể hiện: anh Phan Danh C, sinh ngày 23/10/1991, CMTND số 184002795, Hộ khẩu thường trú: Khối 1, Thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất nhập cả nh 3 lần, xuất cảnh gần đây nhất vào ngà y 22/6/2018 qua Sân bay quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của chị Võ Thị T và anh Phan Danh C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Để đảm bảo giải quyết vụ việc đúng quy định pháp luật, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Phan Danh C thông qua ông Phan Danh L (bố đẻ anh C) và được ông cung cấp thông tin hiện nay anh Phan Danh C đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đức và thường xuyên liên lạc về với gia đình qua điện thoại nhưng địa chỉ cụ thể của C tại CHLB Đức gia đình không rõ. Tòa án đã kết nối điện thoại qua cuộc gọi hình ảnh trên ứng dụng messenger với sự chứng kiến của ông Phan Danh L và đại diện chính quyền địa phương xác nhận anh Phan Danh C là chồng chị Võ Thị T. Trao đổi qua điện thoại, anh C trình bày thống nhất về thời gian, địa điểm kết hôn, cuộc sống vợ chồng, quan hệ con C đúng như chị T đã trình bày. Vợ chồng sống cách xa nên phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau, hiện tại, anh cũng nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, nên chị T làm đơn ly hôn anh cũng nhất trí ly hôn; Về con C: Anh thống nhất giao con C Phan Danh Việt A, sinh ngày 22/02/2015 cho chị Võ Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh đóng góp cấp dưỡng nuôi con C mỗi tháng 3.000.000đ kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu Việt Atrưởng thành (đủ 18 tuổi) và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con C không ai có quyền ngăn cấm, cản trở; Về tài sản C, nợ C: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh C trình bày thêm hiện tại anh đang lao động tự do tại CHLB Đức do điều kiện công việc anh không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt, anh đồng ý việc Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân ở Việt Nam là bố đẻ ông Phan Danh L; địa chỉ: Khối 1, Thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Xét thấy, chị Võ Thị T và anh Phan Danh C đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về quan hệ tình cảm, con chung, về tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, Tòa án căn cứ quy định tại Điều 29, 361 Bộ luật tố tụng dân sự chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” và căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho anh C thông qua người thân là bố đẻ ông Phan Danh L.
Anh Phan Danh C đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Phan Danh C theo thủ tục C.
Chị Võ Thị T có văn bản đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ các Điều 205, 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 16/TB – TA ngày 09/6/2022 về việc vụ việc không hòa giải được.
Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc hôn nhân gia đình theo đúng quy định pháp luật.
Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại các điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị T và anh Phan Danh C là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 29/10/2014 tại Ủy ban nhân dân Thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồ ng C số ng hạ nh phúc được một thời gian thì anh C đi xuất khẩu lao động và vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vì vợ chồng sống cách xa nhau, thiếu sự quan tâm, chăm sóc, chia sẽ nên tình cảm dần phai nhạt. Hiện tại, chị T và anh C đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không cò n , không thể tiếp tục, duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa, mong muốn được ly hôn để tạo lập cuộc sống mới.
Xét thấy: Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, C T, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng hôn nhân giữa chị T và anh C không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, chung thủy, giúp đỡ nhau.
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
Như vậy, chị Võ Thị T và anh Phan Danh C đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
Về quan hệ con C: Chị Võ Thị T và anh Phan Danh C có 01 con C, khi ly hôn vợ chồng đều thống nhất giao con C Phan Danh Việt A, sinh ngày 22/02/2015 cho chị Võ Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh C đóng góp cấp dưỡng nuôi con C mỗi tháng 3.000.000đ kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu Việt A trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con C không ai có quyền ngăn cấm, cản trở. Xét thấy, từ khi anh C đi xuất khẩu lao động đến nay cháu Việt A sống cùng chị T, được mẹ chăm sóc, yêu thương cháu phát triển tốt cả về thể chất và tinh thần, cháu cũng đã có đơn trình bày nguyện vọng muốn sống cùng mẹ khi bố mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu cần căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của vợ chồng về việc chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng các con chung như các đương sự đã trình bày.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Từ những phân tích trên, xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn, nuôi con của chị Võ Thị T và anh Phan Danh C.
Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 146, 149, 361, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83 khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị T và anh Phan Danh C.
2. Về con C: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Võ Thị T và anh Phan Danh C: Giao con C Phan Danh Việt A, sinh ngày 22/02/2015, cho chị Võ Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh C đóng góp cấp dưỡng nuôi con C mỗi tháng 3.000.000đ kể từ khi ly hôn cho đến khi cháu Việt Atrưởng thành (đủ 18 tuổi) và có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.
3 Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Áp dụng Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4, 6, 9, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Võ Thị T (đã nộp tại biên lai số 0000212 ngày 03/6/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh). Chị Võ Thị T nộp tiếp số tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000đ.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao; - VKS, THA tỉnh Hà Tĩnh; - Các đương sự; - Nơi ĐKKH; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC HNGĐ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trịnh Thị Thiện |