- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Trọng T - Lường Thanh T1"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 65/2023/QĐST-HNGĐ | Nam Định ngày 11 tháng 9 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Mai Hương Thư ký phiên họp: Ông Vũ Hoàng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 53/2023/TLST-HNGĐ ngày 28-8-2023 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung”,
Theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 48/2023/QĐ-ST ngày 05-9-2023.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
+ Anh Trần Trọng T, sinh năm 1988
Nơi thường trú: Tổ dân phố Non Côi - thị trấn Gôi - huyện Vụ Bản - tỉnh Nam Định
Hiện đang trú tại: Hàn Quốc
+ Chị Lường Thanh T1, sinh năm 1992
Nơi thường trú: Tổ dân phố Non Côi - thị trấn Gôi - huyện Vụ Bản - tỉnh Nam Định
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1967. Nơi thường trú: Tổ dân phố Non Côi - thị trấn Gôi - huyện Vụ Bản - tỉnh Nam Định
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Trọng T để nhận các văn bản tố tụng: Chị Lường Thanh T1
[Tại phiên họp: Vắng mặt anh T, chị T1, bà H(đều có đơn xin giải quyết vắng mặt)].
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo nội dung đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, tại bản tự khai, anh Trần Trọng T và chị Lường Thanh T1 đều trình bày: Anh chị tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 05-7-2013 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gôi - huyện Vụ Bản - tỉnh Nam Định.
Trong quá trình chung sống, anh T và chị T1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Hiện tại anh T đang cư trú và lao động tại Hàn Quốc, còn chị T1 sinh sống tại Việt Nam; khoảng cách địa lý xa cách nên vợ chồng ít liên lạc với nhau và không còn quan tâm đến nhau. Vợ chồng sống ly thân từ khi anh T đi xuất khẩu lao động. Đến nay, anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên thống nhất ly hôn và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.
Về con chung: Anh T và chị T1 có 02 con chung là cháu Trần Ngọc Diệp sinh ngày 06-4-2013, và cháu Trần Trọng Tài sinh ngày 16-9-2014. Khi ly hôn, anh T và chị T1 thỏa thuận giao con chung là cháu Trần Ngọc Diệp, Trần Trọng Tài cho anh Trần Trọng T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian anh T chưa về nước, anh T ủy quyền cho mẹ là bà Bùi Thị H sẽ là người có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Ngọc Diệp và Trần Trọng Tài.
Bà Bùi Thị H và chị Lường Thanh T1 đều đồng thuận nhất trí việc anh T ủy quyền cho mẹ là bà Bùi Thị H sẽ là người có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Ngọc Diệp và Trần Trọng Tài khi anh T đang ở nước ngoài.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Trọng T và chị Lường Thanh T1 đều thống nhất tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại phiên họp sơ thẩm:
+ Anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1, bà Bùi Thị H đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ việc cũng như tại phiên họp và vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại bản tự khai và đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con chung.
+ Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1, bà Bùi Thị H có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận.
Về nội dung: Anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1 đều thống nhất xin ly hôn. Xét yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh T, chị T1 là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của anh T, chị T1 về việc giao con chung là cháu Trần Ngọc Diệp, Trần Trọng Tài cho anh Trần Trọng T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1 tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện của chị T1 nộp toàn bộ lệ phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Trọng T có đăng ký hộ khẩu tại tổ dân phố Non Côi - thị trấn Gôi - huyện Vụ Bản - tỉnh Nam Định, nhưng hiện đang cư trú và làm việc tại Hàn Quốc, nên căn cứ Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
Anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1, bà Bùi Thị H đều có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1 có đăng ký kết hôn vào ngày 05-7-2013 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gôi - huyện Vụ Bản - tỉnh Nam Định nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Hiện nay, anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống cùng nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh T, chị T1 là tự nguyện, nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1 có 02 con chung là cháu Trần Ngọc Diệp sinh ngày 06-4-2013 và cháu Trần Trọng Tài sinh ngày 16-9-2014. Hiện nay cả hai cháu đang sinh sống ổn định cùng với mẹ đẻ anh T là bà Bùi Thị H. Khi ly hôn anh T, chị T1 thỏa thuận thống nhất giao cháu Trần Ngọc Diệp và cháu Trần Trọng Tài cho anh Trần Trọng T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Lường Thanh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian anh T đang ở nước ngoài thì anh T ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Bùi Thị H sẽ là người có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Ngọc Diệp và Trần Trọng Tài. Bà Bùi Thị H và chị Lường Thanh T1 đều đồng thuận nhất trí việc anh T ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Bùi Thị H sẽ là người có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Ngọc Diệp và Trần Trọng Tài khi anh T đang ở nước ngoài. Xét thấy, việc thỏa thuận của anh T, chị T1, bà Hphù hợp với điều kiện thực tế, không trái pháp luật, đảm bảo được quyền lợi chính đáng của con chung chưa thành niên, nên được chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
Về lệ phí sơ thẩm: Chị Lường Thanh T1 tự nguyện nộp toàn bộ lệ phí Tòa án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 149, Điều 370, Điều 371 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Trần Trọng T, chị Lường Thanh T1.
2. Về con chung: Giao anh Trần Trọng T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Ngọc Diệp sinh ngày 06-4-2013 và cháu Trần Trọng Tài sinh ngày 16-9-2014, cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự lập được; chị Lường Thanh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Trong thời gian anh Trần Trọng T đang ở nước ngoài, thì mẹ đẻ anh T là bà Bùi Thị H sẽ là người có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Ngọc Diệp và Trần Trọng Tài.
Chị Lường Thanh T1 có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh Trần Trọng T.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lường Thanh T1 tự nguyện nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được đối trừ với số tiền tạm ứng lệ phí mà chị T1 đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006895 ngày 28-8-2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nam Định. Xác định chị Lường Thanh T1 đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
4. Quyết định có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 11-9-2023.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nam Định; - Cục THADS tỉnh Nam Định; - UBND thị trấn Gôi - Vụ Bản; - Lưu: VT, hồ sơ vụ việc. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Vũ Thị Mai Hương |