- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Công nhận thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn của anh Dương Quốc T và chị Phạm Khánh V.
- Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------- Số: 65/2022/QĐST-HNGĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Tiến Phong.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Đại diện VKSND TP Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 29/2022/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 2 năm 2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp số 65/2022/QĐ-MPH ngày 25 tháng 02 năm 2022, gồm những người yêu cầu sau đây:
- Anh Dương Quốc T, sinh năm 1964; Căn cước công dân số 001064015abc do Cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và QLQG về dân cư cấp ngày 31/8/2018; chỗ ở: Số 13 ngõ 3 phố B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.
- Chị Phạm Khánh V, sinh năm 1968; Hộ chiếu số B6079bcd do Cục quản lý xuất nhập cảnh cấp ngày 12/3/2012; nơi đăng ký hộ khẩu: Số 100B phố H, phường L, quận H, thành phố Hà Nội; chỗ ở: Thành phố Witerthur – Thụy Sỹ.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Anh Dương Quốc T trình bày: Về tình cảm: Tôi và chị Phạm Khánh V tự nguyện xây dựng gia đình và có đăng ký kết hôn ngày 28/4/1994 tại UBND phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Trước khi kết hôn tôi và chị V có thời gian tìm hiểu nhau là 02 năm; sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại số 100B phố H, phường L, quận H hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống khó khăn về kinh tế, cộng thêm bất đồng quan điểm sống trong sinh hoạt thường ngày nên chị V đã bỏ ra ngoài sống; vợ chồng ly thân từ đó. Năm 2019 chị V tự ý đi ra nước ngoài không được sự đồng ý của anh T và nay chị cương quyết ở lại nước ngoài, không về Việt Nam nữa mặc cho anh T đã thuyết phục nhiều lần. Nay anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và xin được thuận tình ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Dương Quốc Tú, sinh ngày 25/3/1994 và Dương Khánh Ly, sinh ngày 13/8/1998; hiện 02 con chung đã trưởng thành nên các con ở với ai là quyền của các con, anh chị đề nghị Tòa không xét.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phạm Khánh V trình bày: Tôi và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, quận H ngày 28/4/1994. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì phát sinh ra mâu thuẫn lớn; biết mâu thuẫn không thể khắc phục được nên tháng 11 năm 2019 tôi đã tự ý ra nước ngoài sinh sống. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh T để ổn định cuộc sống mới.
Về con chung: Đúng như anh T trình bày, vợ chồng có 02 con chung. Nay 02 con đã trưởng thành nên các con ở với ai là quyền của các con; chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Phạm Khánh V ủy quyền cho anh Dương Quốc T thay mặt chị để nhận các văn bản, thông báo của Tòa án.
Tại phiên họp, có mặt anh Dương Quốc T có mặt, chị Phạm Khánh V, vắng mặt. Chị V có đơn xin vắng mặt vì hiện nay đang ở thành phố Witerthur – Thụy Sỹ, do tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp nên không về Việt Nam được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:
Về tố tụng, Tòa án đã tuân thủ đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Hôn nhân của anh Dương Quốc T và chị Phạm Khánh V có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên được pháp luật bảo vệ. Anh T, chị V 02 con chung là Dương Quốc Tú, sinh ngày 25/3/1994 và Dương Khánh Ly, sinh ngày 13/8/1998; hiện 02 con chung đã trưởng thành nên các con ở với ai là quyền của các con, anh chị đề nghị Tòa không giải quyết. Về tài sản chung và vay nợ chung anh chị cùng xác định không có và không yêu cầu giải quyết. Nay anh chị cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và mong muốn ly hôn. Xét thấy, sự thuận tình ly hôn và các thỏa thuận về con chung, tài sản chung của hai bên đương sự phù hợp với quy định của pháp luật, do vậy đề nghị Tòa án chấp thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:
Về tố tụng: Anh Dương Quốc T và chị Phạm Khánh V có đơn đề nghị công nhận thuận tình ly hôn. Chị Phạm Khánh V hiện nay đang sinh sống tại Thụy Sỹ nên theo quy định tại Điều 29, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Về nội dung: Hôn nhân giữa anh Dương Quốc T và chị Phạm Khánh V do cả 02 cùng tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28/4/1994 tại UBND phường L, quận H, thành phố Hà Nội theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam nên được pháp luật bảo vệ. Cả anh T và chị V đều thừa nhận cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn nên không có hạnh phúc; từ tháng 11 năm 2019 chị V đã đi ra nước ngoài làm ăn sinh sống và chị xác định không về Việt Nam sinh sống nữa. Nay cả 02 anh chị cùng xác định, tình cảm vợ chồng không còn và mong muốn chấm dứt hôn nhân.
Xét thấy, hôn nhân của 02 anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của 02 anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Dương Quốc Tú, sinh ngày 25/3/1994 và Dương Khánh Ly, sinh ngày 13/8/1998; hiện 02 con chung đã trưởng thành nên các con ở với ai là quyền của các con, anh chị đề nghị Tòa không giải quyết nên không xét.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Anh Dương Quốc T và chị Phạm Khánh V đều xác đinh không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về lệ phí: Anh Dương Quốc T tự nguyện chịu cả tiền lệ phí ly hôn.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 67, Điều 143, 146, 149, 367, 369, 370, 371 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu Công nhận thuận tình ly hôn của anh Dương Quốc T và chị Phạm Khánh V.
Anh Dương Quốc T và chị Phạm Khánh V được chấm dứt hôn nhân.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Dương Quốc Tú, sinh ngày 25/3/1994 và Dương Khánh Ly, sinh ngày 13/8/1998; hiện 02 con chung đã trưởng thành nên Tòa không xét.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Anh Dương Quốc T và chị Phạm Khánh V đều xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Về lệ phí: Anh Dương Quốc T tự nguyện chịu cả 300.000 đồng lệ phí ly hôn; số tiền trên được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà anh T đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0000602 ngày 23/02/2022 của Cục Thi hành án dân sự TP. Hà Nội.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ban hành./.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thành phố Hà Nội; - Cục THA DS TP. Hà Nội; - UBND phường L; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Ngô Tiến Phong |