vanban.org

Quyết định 64/2022/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn...

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 07/07/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao hai con chung Lê Ngọc Uyên Nhi, sinh ngày 27/7/2011 và Lê Ngọc Yên Đan, sinh ngày 14/12/2013 cho chị Lê Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Anh Lê Vạn Đ đóng góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng/tháng kể từ thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 64/2022/QĐST- HNGĐHà Tĩnh, ngày 07 tháng 7 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 12/2022/TLST-HNGĐ ngày 12/5/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 54/2022/QĐ-TA ngày 22/6/2022 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

1. Chị Lê Thị M, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối 3, phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

2. Anh Lê Vạn Đ, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Thái Xá, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

- Theo đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, bản tự khai của chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ trình bày thống nhất như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 08/6/2010 tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc được khoảng 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Năm 2013, anh Lê Vạn Đ đi lao động tại Hàn quốc cho đến nay. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung, mặt khác do khoảng cách địa lý, mỗi người một nơi không có thời gian bên nhau để hàn gắn những mâu thuẫn dẫn đến tình cảm phai nhạt, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị M và anh Đ đều nhận thấy tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được nên mong muốn được ly hôn.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ có 02 con chung là Lê Ngọc Uyên N, sinh ngày 27/7/2011 và Lê Ngọc Yên Đ, sinh ngày 14/12/2013. Chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ thống nhất giao hai con chung cho chị Lê Thị M trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Lê Vạn Đ có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Lê Vạn Đ trình bày: Hiện nay anh đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc, do tình hình dịch bệnh phức tạp cũng như tính chất công việc nên anh không thể về Việt Nam để giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị M, nên anh xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ, việc và ủy quyền việc giao nhận văn bản, chứng cứ cho bà Võ Thị H (mẹ đẻ anh Đ); địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

Thủ tục tố tụng:

Anh Lê Vạn Đ hiện đang lao động tại Hàn Quốc có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Anh Lê Vạn Đ có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc ly hôn và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho Võ Thị Hạnh (mẹ đẻ anh Đ); địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Đ theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 08/6/2010 tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ép buộc. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, mặt khác do khoảng cách về địa lý, mỗi người một nơi không có thời gian bên nhau để hàn gắn mâu thuẫn và chia sẽ cùng nhau nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Nay, chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).

Như vậy, chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ có 02 con chung là Lê Ngọc Uyên Nhi, sinh ngày 27/7/2011 và Lê Ngọc Yên Đan, sinh ngày 14/12/2013. Từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn đến nay các cháu sống cùng với chị M, được chị M chăm sóc, nuôi dưỡng tốt; anh Đ hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc không thể trực tiếp thực hiện nghĩa vụ đối với con chung. Anh Đ và chị M đã thống nhất giao hai con chung cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, anh Đ đóng góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng/tháng cho đến khi các con đến tuổi trưởng thành. Xét thấy sự thỏa thuận này của các đương sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên miễn xét.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lê Thị M và anh Lê Vạn Đ.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giao hai con chung Lê Ngọc Uyên Nhi, sinh ngày 27/7/2011 và Lê Ngọc Yên Đan, sinh ngày 14/12/2013 cho chị Lê Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Anh Lê Vạn Đ đóng góp cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 7/2022 cho đến khi con đến tuổi trưởng thành và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai ngăn cấm.

3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Lê Thị M (đã nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0000185 ngày 12/5/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Cỡ chữ