- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Yêu cầu tuyên bố HĐLĐ vô hiệu (Huỳnh Thị Kiều T)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Huỳnh Thị Kiều T.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 63/2024/QĐST-LĐ | Tân Uyên, ngày 19 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Võ Thị Hồng Thêm.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Ông Phạm Văn Giáp - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân thành phố T mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 63/2024/TLST-VLĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 63/2024/QĐST-LĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc lao động: Bà Huỳnh Thị Kiều T, sinh năm 1985; thường trú: Ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm1985; thường trú: Khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt.
- Công ty TNHH Đ; địa chỉ: Khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Chí Như Ý, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; là người đại diện theo uỷ quyền (Giấy uỷ quyền ngày 15/11/2024). Có đơn xin vắng mặt.
- Bảo hiểm xã hội thành phố T; địa chỉ: Khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có văn bản xin vắng mặt.
Những người tham gia tố tụng khác: Không.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết, bà Huỳnh Thị Kiều T trình bày: Năm 2009, bà T cho bà Nguyễn Thị Ngọc L mượn chứng minh nhân dân để làm hồ sơ xin việc làm tại Công ty TNHH Đ. Từ tháng 9/2010 đến tháng 09/2011, Công ty TNHH Đ đã đóng bảo hiểm cho người lao động tên Huỳnh Thị Kiều T với mã số BHXH 7410035267.
Trong thời gian từ tháng 8/2008 đến tháng 3/2023, bà Huỳnh Thị Kiều T làm việc tại Công ty TNHH S và được đóng bảo hiểm với mã số BHXH 7408222944. Sau khi nghỉ việc tại Công ty TNHH S, bà T thực hiện thủ tục hưởng bảo hiểm thì được biết bị đóng trùng bảo hiểm xã hội từ tháng 9/2010 đến tháng 09/2011 tại Công ty TNHH Đ.
Vì đóng trùng bảo hiểm xã hội nên bà T không thực hiện được thủ tục để hưởng các quyền lợi, chế độ cho người lao động nghỉ việc. Do đó, bà T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị Kiều T (do bà Nguyễn Thị Ngọc L ký hợp đồng) với Công ty TNHH Đ (thời gian làm việc từ tháng 09/2010 đến tháng 09/2011) bị vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương (viết tắt là BHXH) trình bày: Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), TNLĐ-BNN của bà Huỳnh Thị Kiều T như sau: Bà Huỳnh Thị Kiều T, sinh năm 1985, số chứng minh nhân dân: xxxxxxxxx (Số C) được Công ty TNHH Đ tham gia BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) với mã số BHXH 7410035267 từ tháng 09/2010 đến tháng 09/2011. Đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN; đã hưởng BHXH một lần theo Quyết định số 031206116 ngày 23/10/2012, đã hưởng trợ cấp BHTN theo Quyết định số 42488 ngày 16/11/2011.
Mã số BHXH 7408222944 tên Huỳnh Thị Kiều T chưa hưởng BHXH một lần, đã hưởng trợ cấp BHTN theo Quyết định số 7948 ngày 18/5/2023, đã hưởng chế độ ốm đau, thai sản 21.414.834 đồng.
Về yêu cầu của bà Huỳnh Thị Kiều T tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu thì Bảo hiểm xã hội thành phố T, tỉnh Bình Dương đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
- Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Đ trình bày: Công ty có ký hợp đồng lao động với người lao động tên Huỳnh Thị Kiều T và đã tham gia bảo hiểm cho người lao động số BHXH 7410035267 từ tháng 9/2010 đến tháng 9/2011. Công ty không biết việc bà Nguyễn Thị Ngọc L sử dụng hồ sơ của bà Huỳnh Thị Kiều T xin việc làm. Vì vậy, bà Huỳnh Thị Kiều T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, Công ty không có ý kiến, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày: Năm 2010, do giấy chứng minh nhân dân của bà L bị mất nên có mượn hồ sơ của bà Huỳnh Thị Kiều T để xin việc tại Công ty TNHH Đ từ tháng 09/2010 đến tháng 09/2011. Bà L đã được hưởng bảo hiểm một lần. Bà L đồng ý tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc lao động Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc lao động đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị Kiều T với Công ty TNHH Đ (từ tháng 09/2010 đến tháng 09/2011) là vô hiệu của người yêu cầu bà Huỳnh Thị Kiều T là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự theo khoản 2, khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Quá trình tố tụng các đương sự thống nhất trình bày: Người lao động tên Huỳnh Thị Kiều T, sinh năm 1985, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, (số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx) đã tham gia bảo hiểm xã hội:
Mã số BHXH 7410035267 tên Huỳnh Thị Kiều T tham gia từ tháng 09/2010 đến tháng 09/2011 tại Công ty TNHH Đ. Đã chốt sổ BHXH; đã xác nhận quá trình đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ-BNN; đã hưởng BHXH một lần theo Quyết định số 031206116 ngày 23/10/2012, đã hưởng trợ cấp BHTN theo Quyết định số 42488 ngày 16/11/2011;
Mã số BHXH 7408222944 tên Huỳnh Thị Kiều T chưa hưởng BHXH một lần, đã hưởng trợ cấp BHTN theo Quyết định số 7948 ngày 18/5/2023, đã hưởng chế độ ốm đau, thai sản 21.414.834 đồng.
Quan hệ lao động giữa Công ty TNHH Đ và bà Huỳnh Thị Kiều T phát sinh từ hợp đồng lao động vào tháng 09/2010. Tuy nhiên, bà Huỳnh Thị Kiều T không ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ và không có làm việc tại công ty T1 khoảng thời gian từ tháng 09/2010 đến tháng 09/2011. Vì trong thời gian trên bà Huỳnh Thị Kiều T làm việc tại Công ty TNHH S1.
Xét thấy, việc bà Huỳnh Thị Kiều T không có giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ mà do người khác sử dụng tên và số chứng minh nhân dân của bà Huỳnh Thị Kiều T giao kết hợp đồng lao động. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
Quá trình làm việc, Bảo hiểm xã hội thành phố T đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Huỳnh Thị Kiều Trang B trùng từ tháng 09/2010 đến tháng 09/2011. Do đó, bà T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Huỳnh Thị Kiều T với Công ty TNHH Đ từ tháng 9/2010 đến tháng 9/2011 vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.
Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Bà Huỳnh Thị Kiều T phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 33, 39, 149, 367, 372, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Huỳnh Thị Kiều T.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Huỳnh Thị Kiều T, sinh năm 1985; thường trú: Ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang với Công ty TNHH Đ, thời gian từ tháng 9/2010 đến tháng 9/2011 bị vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: bà Huỳnh Thị Kiều T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0004548 ngày 28/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Võ Thị Hồng Thêm |