- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa Nguyễn Văn H và Bùi Thị T"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 61/2020/QĐST- HNGĐ | Bỉm Sơn, ngày 28 tháng 7 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào khoản 2 Điều 29, Điều 397, Điều 212, Điều 213, khoản 3 Điều 144, khoản 2 Điều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 55, 57 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án mục 1.1 phần B danh mục về lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 79/ 2020/ TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020, về việc “ Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận về nuôi con khi ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: 1. Anh Nguyễn Văn H - sinh năm: 1987 Nơi cư trú: khu phố 2, phường P, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. 2. Chị Bùi Thị T - sinh năm: 1994 Nơi cư trú: khu phố 2, phường P, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
[1] Về hôn nhân: Tại Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ việc dân sự, chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh Nguyễn Văn H và chị Bùi Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình. Đăng ký kết hôn tại UBND phường Phú Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 3 năm, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm và lối sống, giữa hai bên không tìm được tiếng nói chung. Anh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 11năm 2019 đến nay. Nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh chị cùng thống nhất ly hôn để giải thoát cho nhau và yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho anh chị.
Xét việc thuận tình ly hôn của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của anh Nguyễn Văn H và chị Bùi Thị T.
[2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là: Nguyễn Thị Ngọc Vy ( nữ) sinh ngày 06/ 11/ 2016. Hai bên thỏa thuận, sau khi ly hôn anh H trực tiếp nuôi con và chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận về nuôi con chung của anh chị.
Việc thỏa thuận về việc nuôi con giữa những người yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên được chấp nhận.
[3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của những người yêu cầu được ghi trong Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành và Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự ngày 20 tháng 7 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn H và chị Bùi Thị T.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Ngọc Vy ( nữ) sinh ngày 06/ 11/ 2016 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên ( 18 tuổi) và có khả năng lao động; chị Bùi Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì quyền lợi của con cái, khi cần thiết, các bên đương sự được quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét.
2. Về lệ phí Tòa án: Lệ phí giải quyết việc dân sự anh Nguyễn Văn H và chị Bùi Thị T mỗi người phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Hai bên thống nhất chuyển số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ mà anh H đã nộp, theo biên lai thu số: AA/2017/0006305 ngày 07 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn sang phần lệ phí cho anh chị. Như vậy, các đương sự đã thi hành xong khoản lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đươngsự; - VKSND thị xã Bỉm Sơn; - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn; - UBND phường Phú Sơn- Bỉm Sơn ( Đk: 2015); - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN ( Đã ký) Tống Thị Hà |