- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "Công nhân thuận tình ly hôn"
- Tòa quyết gì? Công nhận yêu cầu thuận tình ly hôn của Chị Trần Quỳnh Tr và anh Trần Đức M.
- Căn cứ chính? Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố Hà Nội ------- Số: 61/2020/QĐST-HNGĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Hà Nội, ngày 03 tháng 7 năm 2020. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Tiến Phong.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên họp:
Bà Hoàng Vĩnh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 20/2020/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 về “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 126/2020/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Trần Quỳnh Tr, sinh năm 1986; nơi đăng ký hộ khẩu: Số ab, tổ cd
phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Anh Trần Đức M, sinh năm 1990; Địa chỉ thứ nhất: abc Nurnberg
Warbrunner Strabe cd; Địa chỉ thứ 2: Schulz- Knaudt Strasse 1c.
Duisburg bcd- Cộng hòa liên bang Đức.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn ly hôn và bản tự khai chị Trần Quỳnh Tr trình bày: Chị và anh Trần Đức M xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 20/06/2013 tại Sở Tư pháp thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn anh chị sang chung sống tại CHLB Đức. Cuộc sống chung không hạnh phúc do có những bất đồng vì tính cách không hợp nhau; vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xung khắc về mọi vấn đề trong cuộc sống. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kể từ tháng 06/2017 đến nay anh chị đã sống ly thân. Nay cả hai đều xác định không còn tình cảm, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết ly hôn.
Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Tr khẳng định vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh Trần Đức M nhất trí về thời gian, điều kiện kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng. Anh M thừa nhận vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2017 đến nay, hiện vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm chăm sóc nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Về con chung: Không có con chung.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Anh M khẳng định vợ chồng không có tài sản chung, vay nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về lệ phí: Chị Tr tự nguyện nộp tiền lệ phí ly hôn sơ thẩm.
Do điều kiện ở xa nên anh M đề nghị giải quyết vắng mặt anh ở tất cả các buổi hòa giải, mở phiên họp tại Tòa án.
Tại phiên họp, chị Tr, anh M cùng vắng mặt; anh chị có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Chị Trần Quỳnh Tr ủy quyền cho bố đẻ là ông Trần Bá L nhận các văn bản, thông báo của Tòa án.
Ông Trần Bá L có mặt tại phiên họp thừa nhận đã được nhận Thông báo thụ lý vụ án, Quyết định mở phiên họp và đã thông báo những lịch này cho chị Tr biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến: Về tố tụng, Tòa án đã tuân thủ đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Chị Trần Quỳnh Tr và anh Trần Đức M kết hôn hợp pháp. Nay mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai vợ chồng đều xác định không còn tình cảm, đề nghị cho anh M chị Tr được ly hôn. Về con chung: Không có. Các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:
Về tố tụng: Chị Trần Quỳnh Tr và anh Trần Đức M cùng có đơn yêu cầu giải quyết Công nhận thuận tình ly hôn. Hiện cả hai đang sinh sống và làm việc tại Đức nên theo quy định tại Điều 29, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Về nội dung: Chị Trần Quỳnh Tr và anh Trần Đức M kết hôn trên tình thần tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày20/06/2013 tại Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp.Trong cuộc sống chung giữa anh M, chị Tr thường xuyên xung khắc, vợ chồng không có tiếng nói chung do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ giữa năm 2017 đến nay.
Xét thấy hôn nhân của anh M, chị Tr đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai đều xác định tình cảm không còn, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Việc yêu cầu của 02 anh chị là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận.
Về con chung, tài sản chung và vay nợ chung: Chị Tr và anh M cùng khẳng định không có, không nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về lệ phí: Chị Tr tự nguyện nộp tiền lệ phí hôn sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 67, Điều 143, Điều 146, Điều 149. Điều 367. Điều 369, Điều 370. Điều 371 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.
1. Công nhận yêu cầu thuận tình ly hôn của Chị Trần Quỳnh Tr và anh Trần Đức M.
Chị Trần Quỳnh Tr và anh Trần Đức M được chấm dứt hôn nhân.
2. Về con chung, tài sản chung và vay nợ chung: Anh chị đều xác định không có, không vay nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Án phí: Chị Trần Quỳnh Tr tự nguyện chịu cả 300.000 đồng lệ phí ly hôn. Số tiền trên được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại biên lai thu số 0013931 ngày 10/02/2020 tại Cục Thi hành án dân sự TP. Hà Nội.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày công bố(Ngày 03/7/2020)./.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | Ngô Tiến Phong |