- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyen văn L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của ông Nguyễn Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 60/2025/QĐST-LĐ | Dĩ An, ngày 18 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Hải Nam.
Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 54/2025/TLST-VLĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 54/2025/QĐST-VDS ngày 15 tháng 4 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; HKTT: Ấp K, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Địa chỉ liên hệ: Số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Nguyễn Văn N, sinh năm 1992; HKTT: Ấp K, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Địa chỉ liên hệ: Số B khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2.2. Công ty Cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P); Địa chỉ: Số E, đường X, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1967; HKTT: Số G đường số A, Khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền - Văn bản ủy quyền ngày 01/3/2024; (Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2.3. Bảo hiểm xã hội thành phố D; Địa chỉ: Đường T, khu T, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương;
Người đại diện hợp pháp: Ông Dương Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương - Khu T, tỉnh Bình Dương; (là người đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 10/4/2025). (Vắng mặt, có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
* Tại Đơn yêu cầu đề ngày 18/3/2025 và quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1992 là anh họ của ông Nguyễn Văn L. Vào khoảng tháng 06/2009 do ông N không đủ tuổi ứng tuyển lao động nên ông L có cho ông N sử dụng thông tin của mình để giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần P (nay là Công ty cổ phần Đ); Địa chỉ: Số E, đường X, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương;
Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P) đã đóng bảo hiểm cho ông Nguyễn Văn N với tên của ông Nguyễn Văn L từ tháng 6/2009 đến tháng 02/2012 với mã số 7409199645.
Đồng thời trong thời gian từ tháng 7/2009 đến tháng 6/2011, ông L giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần Đ, có đóng Bảo hiểm xã hội mã số 7409229741.
Nay ông Nguyễn Văn L tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì Cơ quan Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của ông L bị trùng. Ông L đã liên hệ với cơ quan Bảo hiểm xã hội nhờ hướng dẫn thì cán bộ hướng dẫn đến Tòa án để yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Văn N với tên của ông Nguyễn Văn L và Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P) theo hướng dẫn tại Công văn 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 của Bộ L1.
Do ông Nguyễn Văn L và ông Nguyễn Văn N không hiểu biết về pháp luật nên mới cho mượn giấy tờ để ký hợp đồng lao động như trên.
Do đó, ông Nguyễn Văn L yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giải quyết: Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Văn L và Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P) là vô hiệu với lý do: Anh họ của ông L là Nguyễn Văn N đã sử dụng thông tin của ông L để giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P). Ông Nguyễn Văn L chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, ngoài ra không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Việc ông Nguyễn Văn N mượn hồ sơ lao động của ông L để làm việc tại Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P) là lỗi của ông L và ông N, không liên quan đến Công ty. Do đó, ông L tự nguyện đóng toàn bộ lệ phí lao động sơ thẩm theo quy định.
Ngoài ra, ông L xác định không có ý kiến, hay yêu cầu gì khác trong việc này. Đồng thời, ông L đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N trình bày:
Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1990 là em họ của ông N. Vào khoảng tháng 6/2009 do ông N không đủ tuổi ứng tuyển lao động nên có mượn thông tin của ông L để giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P); Địa chỉ: Số E, đường X, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương;
Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P) đã đóng bảo hiểm cho ông N với tên của ông Nguyễn Văn L từ tháng 6/2009 đến tháng 12/2012 với mã số 7409199645.
Thực tế thời gian từ tháng 7/2009 đến tháng 6/2011, ông L cũng làm việc tại Công ty cổ phần Đ và Công ty có đóng bảo hiểm cho ông L với mã số 7409229741.
Đến thời điểm hiện tại do đã lâu nên hợp đồng lao động và các giấy tờ liên quan khi ông N sử dụng thông tin của ông Nguyễn Văn L ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P) đã thất lạc hết không thể cung cấp cho Tòa án. Tại thời điểm lấy thông tin của ông Nguyễn Văn L để giao kết hợp đồng, bản thân ông N và ông L không hiểu biết pháp luật nên đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Nguyễn Văn L.
Do đó, đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn L về việc yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng lao động giữa Nguyễn Văn L và Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P) là vô hiệu thì ông N đồng ý.
Ông Nguyễn Văn N xác định không có ý kiến, hay yêu cầu gì trong việc này. Đồng thời, ông N đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P) trình bày:
Tất cả người lao động khi xin việc tại Công ty phải có hồ sơ xin việc, sơ yếu lý lịch đầy đủ và phải có xác nhận của chính quyền địa phương thì mới được nhận vào làm việc tại Công ty. Do người lao động tại Công ty rất đông, Công ty căn cứ hồ sơ hợp lệ của người lao động để ký hợp đồng theo quy định. Ngoài ra Công ty không thể xác định được chính xác người lao động có phải đúng nhân thân như hồ sơ hay không bởi vì hình ảnh trên chứng minh nhân dân được cấp thời gian lâu có thể không giống hoàn toàn với người lao động tại thời điểm xin việc. Khi người lao động vào làm việc thì Công ty phải tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động đó theo quy định.
Tòa án yêu cầu Công ty cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan người lao động Nguyễn Văn L, tuy nhiên vì thời gian người lao động này nghỉ việc đã gần 13 năm đồng thời Công ty cổ phần P đã giải thể từ năm 2012 cho nên Công ty Đ không còn lưu trữ hồ sơ chứng từ gốc của Công ty P, do đó hiện tại các hồ sơ liên quan đến người lao động nêu trên Công ty Đ không còn lưu trữ. Hồ sơ người lao động Công ty đã hủy theo quy định lưu trữ 05 năm kể từ khi chấm dứt hợp đồng lao động (bao gồm sơ yếu lý lịch, các bản hợp đồng lao động, hồ sơ giải quyết nghỉ việc,…).
Nay người lao động cho rằng có sự việc ông Nguyễn Văn L cho anh họ là ông Nguyễn Văn N sử dụng thông tin của ông L để ký kết hợp đồng lao động với Công ty. Việc người khác sử dụng chứng minh nhân dân, thông tin của ông L để giao kết hợp đồng lao động với Công ty là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động. Do đó việc ông L yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Văn L (do người khác giả mạo tên) với Công ty cổ phần P thì Công ty K đề nghị Toà án xem xét và giải quyết theo quy định pháp luật.
Còn về việc ký lại hợp đồng lao động với ông Nguyễn Văn N trong thời gian thực tế ông N làm việc cho Công ty thì Công ty không đồng ý. Bởi lẽ, việc ông N lấy thông tin cá nhân của ông L để làm việc tại Công ty là một hành vi gian dối, dẫn đến việc Công ty ký kết hợp đồng với ông L (nhưng ông N mới là người thực tế làm việc tại Công ty), đó là một hành vi vi phạm pháp luật và nếu ký lại thì tại thời điểm đó ông N cũng không đủ tuổi để ký kết hợp đồng lao động.
Ngoài ra, Công ty không có yêu cầu gì khác. Đồng thời, đại diện Công ty cổ phần Đ đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố D trình bày:
Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp của Công ty cổ phần P (nay là Công ty cổ phần Đ) cho người lao động thì Công ty có tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho ông Nguyễn Văn L sinh năm 1990, số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7409199645 có quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế từ tháng 06/2009 đến tháng 02/2012 đã nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần.
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn L còn có mã số 7409229741 có quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế từ tháng 07/2009 đến tháng 06/2011 và số sổ 7412149272 có quá trình tham gia từ tháng 04/2012 đến tháng 05/2012 tại Công ty cổ phần Đ.
Về đề nghị yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu giữa ông Nguyễn Văn L và Công ty cổ phần P (nay là Công ty cổ phần Đ), đề nghị Tòa án căn cứ theo Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc xử lý hợp đồng lao động vô hiệu để tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Công ty cổ phần P (nay là Công ty cổ phần Đ) có giao kết lại hợp đồng lao động với người mượn hồ sơ hay không. Về hợp đồng lao động, giấy tờ tùy thân của ông Nguyễn Văn L, Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố D không có lưu trữ những hồ sơ này.
Về các yêu cầu khác của ông Nguyễn Văn L, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến. Đề nghị Toà án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến, yêu cầu gì khác và đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của Tòa án.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Yêu cầu của ông Nguyễn Văn L là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn L có đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện tại Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P); Địa chỉ: Số E, đường X, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Nguyễn Văn L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N, Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P); Bảo hiểm xã hội thành phố D có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án tiếp tục phiên họp.
Đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn L xét thấy:
Việc ông Nguyễn Văn N mượn Chứng minh nhân dân, hồ sơ lao động của ông Nguyễn Văn L để giao kết hợp đồng lao động với Công ty cổ phần Đ (trước đây là Công ty cổ phần P) là gian dối. Hành vi trên là vi phạm nguyên tắc “Trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin
Công ty cổ phần P (nay là Công ty cổ phần Đ) có tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho ông Nguyễn Văn L với mã số BHXH 7409199645 có quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế từ tháng 06/2009 đến tháng 02/2012 đã nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần. Ngoài ra, ông Nguyễn Văn L còn có mã số 7409229741 có quá trình tham gia Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế từ tháng 07/2009 đến tháng 06/2011 và số sổ 7412149272 từ tháng 04/2012 đến tháng 05/2012 tại Công ty cổ phần Đ.
Trình bày của ông Nguyễn Văn L là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết việc dân sự, phù hợp lời lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, ông Nguyễn Văn L yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa ông Nguyễn Văn L với Công ty cổ phần P (nay là Công ty cổ phần Đ) (thời gian làm việc từ tháng 06/2009 đến tháng 02/2012) vô hiệu là có cơ sở chấp nhận. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung việc dân sự, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Ông Nguyễn Văn L phải chịu lệ phí theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 33, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của ông Nguyễn Văn L.
Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa ông Nguyễn Văn L với Công ty cổ phần P (nay là Công ty cổ phần Đ) là vô hiệu toàn bộ.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí ông L đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007943 ngày 21/3/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.
Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VT; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Hải Nam |