vanban.org

Quyết định 60/2024/QĐ-TA

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 28/08/2024 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Thành T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 tháng (Hai mươi bốn tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3/ Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 60/2024/QĐ-TAP, ngày 28 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH B

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Hà Thị Ái Q

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị N

Ngày 28/8/2024 tiến hành mở phiên họp tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố P đưa ra xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, theo Quyết định mở phiên họp số 56/QĐ-MPH ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với:

Họ và tên: Đỗ Thành T, sinh năm 1999; giới tính (nam)

Nơi cư trú: khu phố 3, phường B, thành phố P, tỉnh B; nghề nghiệp: không; con ông Đỗ Văn M, sinh năm 1965; con bà Bùi Thị H (đã chết), nơi cư trú: Khu phố 3, phường B, thành phố P, tỉnh B;

Tiền án: không; Tiền sự: 1.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp.

Tại phiên họp có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Thế H – Phòng Lao động -Thương binh xã hội thành phố P.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P: Bà Trương Thị Mỹ T - Kiểm sát viên.

3. Đại diện Công an phường B: Ông Lê Minh H - Công an phường B, thành phố P.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên họp thể hiện:

Vào ngày 12/7/2024, Đỗ Thành T có hành vi sử dụng ma tuý tại phường L, thành phố P. Đến ngày 20/572024 Công an phường B tổ chức xét nghiệm nước tiểu Đỗ Thành T xác định kết quả là “Dương tính” với THC, Methamphetamine (Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/7/2024 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh B).

Ngày 29/7/2024, bị UBND phường B lập biên bản vi phạm về việc không đăng ký cai ngiện ma tuý tự nguyện, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 01/8/2024, UBND phường B ban hành Quyết định số 107/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Ngày 02/8/2024, Chủ tịch UBND phường B có Công văn số 697/ĐN-CNBB về việc đề nghị Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố P áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Duy T.

Ngày 15/8/2024, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có Công văn 1428/ĐN-CNBB về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh B đối với Đỗ Thành T.

* Ý kiến của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội:

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đỗ Thành T là trái với quy định của pháp luật. Đề nghị đưa Đỗ Thành T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

* Ý kiến của đại diện Công an phường B:

Đỗ Thành T là đối tượng nghiện ma túy nặng ở địa phương. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc, với thời hạn từ 18 đến 24 tháng.

* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố P:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định, Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đồng ý với ý kiến của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội đề nghị đưa Đỗ Thành T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

XÉT THẤY

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố P, Công an phường Đ, thành phố P đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập hợp pháp, thể hiện rõ hành vi vi phạm của người bị đề nghị.

Xét thấy, Đỗ Thành T là đối tượng nghiện ma túy tại địa bàn phường B, thành phố P. Các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện Đỗ Thành T khai nhận đã sử dụng trái phép chất ma tuý, đến ngày 20/7/2024 Công an phường B tổ chức xét nghiệm nước tiểu cùa Đỗ Thành T xác định kết quả là “Dương tính” với THC, Methamphetamine (Theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 22/7/2024 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh B). Do đó, đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố P, ý kiến của Công an phường B, phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tại phiên họp là có căn cứ. Việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp giúp Đỗ Thành T từ bỏ ma túy, sớm trở về hòa nhập với gia đình và trở thành người có ích cho xã hội.

Quá trình lập hồ sơ đề nghị Đỗ Thành T đã tự nguyện khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ:

- Điều d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012;

- Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 107, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính (đã sửa đổi, bổ sung năm 2020);

- Điều 2, Điều 3, Điều 12, Điều 13, Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 31, Điều 32, Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân”;

- Khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021;

- Điều 33, Điều 40, Điều 41, Điều 42, Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đỗ Thành T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 24 tháng (Hai mươi bốn tháng), kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3/ Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định:

- Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; trường hợp vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn khiếu nại là 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày niêm yết quyết định.

- Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố P có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát thành phố P có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố P phối hợp với Công an thành phố P đưa Đỗ Thành T vào sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh B.

Cỡ chữ