vanban.org

Quyết định 59/2024/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Đặng Thị Thu H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Đặng Thị Thu H, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố A L, phường A H, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (do chị Đặng Thị Thu H1 ký kết) với Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion từ tháng 10-2008 đến tháng 02-2010 vô hiệu. Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ qua… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Đặng Thị Thu H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Đặng Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động và Nghị; Điều 16 Bộ luật Lao động và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 59/2024/QĐST-LĐTrảng Bàng, ngày 24 tháng 9 năm 2024.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Linh Ngọc.

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: Bà Lê Huỳnh Như Nguyện - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 32/2024/TLST-LĐ, ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc: “Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 48/2024/QĐST-LĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Đặng Thị Thu H, sinh năm 1989 – Xin vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố A L, phường A H, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đặng Thị Thu H1, sinh năm 1991 – Vắng mặt;

Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Khu phố L C, phường L H, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ tạm trú: Khu phố A L, phường A H, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion.

Địa chỉ trụ sở chính: Đường số 6, Khu công nghiệp Trảng Bàng, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông HONG SUNG JIN, chức danh: Giám đốc – Vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ trụ sở: Số 233, Đường Nguyễn Chí Thanh, Khu phố 5, Phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Huấn, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Hồng Thắm, chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (Văn bản uỷ quyền ngày 26-8-2024) – Xin vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu chị Đặng Thị Thu H trình bày:

Chị và chị Đặng Thị Thu H1 là chị em ruột. Vào năm 2008, chị H1 mượn giấy chứng minh nhân dân của chị để ký hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion, được tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ 7208023581. Chị H1 làm việc tại Công ty từ tháng 10-2008 đến tháng 02-2010 thì nghỉ việc và làm thủ tục để rút các khoản tiền bảo hiểm xã hội được hưởng trong thời gian mà chị H1 làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion.

Tuy nhiên từ tháng 10-2008, chị H trực tiếp làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Park Corp (Việt Nam). Quá trình làm việc, chị H cũng tham gia bảo hiểm xã hội và được cấp sổ bảo hiểm xã hội với số sổ 7208019830. Chị H làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Park Corp (Việt Nam) từ tháng 10-2008 đến tháng 02-2015 thì nghỉ việc. Sau đó, chị H đến làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn May mặc First Team Việt Nam và tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 5-2015 đến tháng 5-2023 thì nghỉ việc và làm thủ tục để được nhận các khoản tiền bảo hiểm xã hội nhưng không được do cùng một tên “Đặng Thị Thu H” và cùng một thời điểm lại tham gia bảo hiểm xã hội tại 02 Công ty khác nhau.

Nay chị H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị H1 (đứng dưới tên Đặng Thị Thu H) với Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion vô hiệu.

Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý việc dân sự, giấy triệu tập cho chị Đặng Thị Thu H1, nhưng chị H1 không đến nên không thể hiện được lời trình bày và ý kiến của chị H1.

Trong quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã niêm yết Văn bản số 390/TA, ngày 10-7-2024 cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion, nhưng Công ty không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án nên không thể hiện được lời trình bày và ý kiến của Công ty.

Trong quá trình giải quyết việc dân sự, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh là bà Lâm Thị Hồng Thắm trình bày (Tại Văn bản số 1948/BHXH-BTXTB, ngày 26-8-2024):

Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng cung cấp quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của chị Đặng Thị Thu H với mã số bảo hiểm xã hội: 7208023581, chị H đã hưởng hết quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Kiến nghị Tòa án xem xét tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Đặng Thị Thu H và Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion vô hiệu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng chị Đặng Thị Thu H1 và Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50, 51 của Bộ luật Lao động và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng giải quyết việc dân sự xem xét quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Đặng Thị Thu H. Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Đặng Thị Thu H1 và Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion ký kết dưới tên chị Đặng Thị Thu H là vô hiệu.

2. Chị Đặng Thị Thu H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

“Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và điểm d khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion có địa chỉ trụ sở chính tại: Đường số 6, Khu công nghiệp Trảng Bàng, phường A T, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo quy định tại điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự:

Chị H và bà Thắm vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt; chị Đặng Thị Thu H1 và người đại diện theo pháp luật của Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Thẩm phán vẫn tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị H, chị H1, bà Thắm và Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion là phù hợp với khoản 2, 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự:

Chị H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị H1 (do chị H1 sử dụng giấy chứng minh nhân dân của chị H để ký kết) với Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion vô hiệu:

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ việc chị H trình bày chị H1 có mượn giấy chứng minh nhân dân của chị H để làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion trong thời gian từ tháng 10-2008 đến tháng 02-2010. Chị H1 đã được thông báo về yêu cầu của chị H nhưng chị H1 không có ý kiến. Qua kết quả xác minh bà Trần Thị G là mẹ ruột của chị H và chị H1 cũng thể hiện có sự việc chị H1 mượn giấy chứng minh nhân dân của chị H để đi làm khi chị H1 chưa đủ tuổi. Vì vậy, việc chị H1 sử dụng thông tin cá nhân của chị H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion từ tháng 10-2008 đến tháng 02-2010 là gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc “Trung thực”, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên hợp đồng lao động vô hiệu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Quá trình giải quyết vụ việc, Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của chị H và qua đối chiếu quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của chị H thể hiện: Thời gian đóng bảo hiểm xã hội mang tên chị H bị trùng từ tháng 10-2008 đến tháng 02-2010 do làm tại 02 Công ty khác nhau, nhưng chị H đã hưởng hết quá trình tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion từ tháng 10-2008 đến tháng 02-2010.

Từ những phân tích trên, xét thấy việc chị H yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị H (do chị H1 sử dụng giấy chứng minh nhân dân của chị H để ký kết) với Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion từ tháng 10-2008 đến tháng 02-2010 vô hiệu là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án cần chấp nhận.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

Xét toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Chị H là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên chị H phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 33, 35, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 15, 16, 49, 50, 51 của Bộ luật Lao động và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Đặng Thị Thu H.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Đặng Thị Thu H, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố A L, phường A H, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (do chị Đặng Thị Thu H1 ký kết) với Công ty trách nhiệm hữu hạn Kovina Fashion từ tháng 10-2008 đến tháng 02-2010 vô hiệu.

Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Chị Đặng Thị Thu H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà chị H đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015639 ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị H đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ