- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Trần Thị P yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Trần Thị P.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động và Nghị; Điều 16 Bộ luật Lao động và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 57/2024/QĐST-LĐ | Trảng Bàng, ngày 13 tháng 9 năm 2024. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Linh Ngọc.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên họp: Ông Trần Tấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 23/2024/TLST-LĐ, ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc: “Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 47/2024/QĐST-LĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Trần Thị P, sinh năm 1990 – Xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp T B, xã T M, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Phạm Thị B, sinh năm 1993 – Xin vắng mặt;
Địa chỉ: Ấp A T, xã A N T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
2. Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK).
Địa chỉ trụ sở chính: Lô 95 và 96, Khu chế xuất và công nghiệp Linh Trung III, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông YU, XICHAO, chức danh: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông LIU GANG, chức vụ: Giám đốc, theo Giấy ủy quyền số 16/GUQ-CSQ, ngày 06-5-2024.
Người đại diện theo ủy quyền của ông LIU GANG: Bà Nguyễn Thị Ngọc P1, sinh năm 1983 – Xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp M K A, xã T M, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy ủy quyền ngày 17-6-2024.
3. Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ trụ sở: Số 233, đường Nguyễn Chí Thanh, Khu phố 5, Phường 3, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Huấn, chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Hồng Thắm, chức vụ: Giám đốc Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh (Văn bản uỷ quyền ngày 26-8-2024) – Xin vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu chị Trần Thị P trình bày:
Chị và chị Phạm Thị B là chị em họ với nhau. Vào tháng 9-2008, chị B mượn giấy chứng minh nhân dân của chị để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK), được tham gia bảo hiểm xã hội với số sổ 7208021621. Chị Bé làm việc tại Công ty từ tháng 9-2008 đến tháng 8-2009 thì nghỉ việc.
Tuy nhiên từ tháng 9-2008, chị P cũng trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH Hansae Tây Ninh thuộc Khu chế xuất và công nghiệp Linh Trung III, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng (nay là phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng), tỉnh Tây Ninh. Quá trình làm việc, chị P cũng tham gia bảo hiểm xã hội và được cấp sổ bảo hiểm xã hội với số sổ 7208025973. Chị P làm việc tại Công ty TNHH Hansae Tây Ninh từ tháng 9-2008 đến tháng 8-2022 thì nghỉ việc. Nay chị P làm thủ tục để được nhận các khoản tiền bảo hiểm xã hội nhưng không được do cùng một tên “Trần Thị P” và cùng một thời điểm lại tham gia bảo hiểm xã hội tại 02 Công ty khác nhau.
Nay chị P yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị B (đứng dưới tên Trần Thị P) với Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) vô hiệu.
Trong quá trình giải quyết việc dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị B trình bày:
Chị và chị P là chị em họ với nhau. Năm 2008, chị có mượn giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị P để đi làm tại Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK). Chị đã làm việc tại Công ty này từ tháng 9-2008 cho đến tháng 8-2009 chị xin nghỉ việc và trong thời gian này Công ty có tham gia bảo hiểm xã hội cho chị. Sau khi nghỉ việc chị vẫn chưa nhận số tiền bảo hiểm xã hội của thời gian làm việc tại Công ty này. Hiện tại, chị P đã nghỉ việc nhưng chưa nhận được tiền bảo hiểm xã hội, do thời điểm chị P cho chị mượn giấy chứng minh nhân dân để đi làm thì chị P cũng đang làm việc tại công ty khác và công ty có đóng bảo hiểm xã hội cho chị P. Do đó, có sự việc trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội như chị P đã trình bày. Nay chị đồng ý tuyên bố hợp đồng lao động được ký kết giữa chị đứng dưới tên Trần Thị P với Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) vô hiệu. Chị đồng ý cho chị P được nhận tiền bảo hiểm xã hội trong thời gian từ tháng 9-2008 đến tháng 8-2009 tại Công ty thực tế chị P đã làm việc.
Trong quá trình giải quyết việc dân sự, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) là bà Nguyễn Thị Ngọc P1 trình bày (Theo Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ngày 17-6-2024): Do thời gian đã lâu và người phụ trách nhân sự đã thay đổi, không còn làm việc tại Công ty nên Công ty không còn lưu trữ thông tin gì về chị Trần Thị P. Công ty đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết việc dân sự, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Tây Ninh là bà Lâm Thị Hồng Thắm trình bày (Tại Văn bản số 1949/BHXH-BTXTB, ngày 26-8-2024):
Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng cung cấp quá trình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của chị Trần Thị P với mã số bảo hiểm xã hội: 7208021621. Kiến nghị Tòa án xem xét tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Trần Thị P và Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) vô hiệu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và đương sự chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết việc dân sự: Căn cứ các Điều 15, 16, 49, 50, 51 của Bộ luật Lao động và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng giải quyết việc dân sự xem xét quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc lao động của chị Trần Thị P. Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Phạm Thị B và Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) ký kết dưới tên chị Trần Thị P là vô hiệu.
2. Chị Trần Thị P phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
“Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và điểm d khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện tại Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) có địa chỉ trụ sở chính tại: Lô 95 và 96, Khu chế xuất và công nghiệp Linh Trung III, phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng theo quy định tại điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Chị P, chị B, bà P1 và bà Thắm vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Thẩm phán vẫn tiến hành mở phiên họp là phù hợp với quy định tại khoản 2, 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về yêu cầu của đương sự:
Chị P yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị B (do chị B sử dụng giấy chứng minh nhân dân của chị P để ký kết) với Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) vô hiệu:
Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ việc chị P và chị B đều xác định là chị B có mượn giấy chứng minh nhân dân của chị P để làm việc tại Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) trong thời gian từ tháng 9-2008 đến tháng 8-2009. Vì vậy, việc chị B sử dụng thông tin cá nhân của chị P để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) từ tháng 9-2008 đến tháng 8-2009 là gian dối. Hành vi trên đã vi phạm nguyên tắc “Trung thực”, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên hợp đồng lao động vô hiệu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.
Quá trình giải quyết vụ việc, Bảo hiểm xã hội thị xã Trảng Bàng đã cung cấp thông tin về thời gian đóng bảo hiểm xã hội của chị P và qua đối chiếu quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của chị P thể hiện: Thời gian đóng bảo hiểm xã hội mang tên chị P bị trùng từ tháng 9-2008 đến tháng 8-2009 do làm tại 02 Công ty khác nhau. Chị B chưa được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội 01 lần của quá trình đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) từ tháng 9-2008 đến tháng 8-2009. Như nay chị B đồng ý cho chị P được nhận tiền bảo hiểm xã hội trong thời gian từ tháng 9-2008 đến tháng 8-2009 tại Công ty thực tế chị P đã làm việc, tức Công ty TNHH Hansae Tây Ninh.
Từ những phân tích trên, xét thấy việc chị P yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị P (do chị B sử dụng giấy chứng minh nhân dân của chị P để ký kết) với Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) vô hiệu là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án cần chấp nhận.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Xét toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ và phù hợp nên Tòa án chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Chị P là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên chị P phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 33, 35, 39, 149, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 15, 16, 49, 50, 51 của Bộ luật Lao động và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Trần Thị P.
Tuyên bố hợp đồng lao động giữa chị Trần Thị P, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp T B, xã T M, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (do chị Phạm Thị B ký kết) với Công ty TNHH May mặc JiFa S.OK (Nay là Công ty TNHH May mặc Việt Nam CSQ S.OK) từ tháng 9-2008 đến tháng 8-2009 vô hiệu.
Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự:
Chị Trần Thị P phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí mà chị P đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015414 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị P đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định giải quyết việc dân sự được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - CC.THADS thị xã Trảng Bàng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Linh Ngọc |