vanban.org

Quyết định 56/2025/QĐST-LĐ — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/03/2025 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Hoàng Thị H.

Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Hoàng Thị H với Công ty trách nhiệm hữu hạn T là vô hiệu. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Hoàng Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007848 ngày 26/02/2025 c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Hoàng Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Hoàng Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động; Điều 16 Bộ luật Lao động
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 56/2025/QĐST-LĐDĩ An, ngày 31 tháng 3 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Ngọc Công.

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Ninh - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 32/2025/TLST-VLĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 05/2025/QĐST-VDS ngày 26 tháng 3 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1990; thường trú: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1992; thường trú: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn T; địa chỉ: Số H, đường số H, Khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

3. Bảo hiểm xã hội tỉnh B; địa chỉ: Số A, đường L, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thắng L; chức vụ: Phó trưởng phòng Thanh tra – Kiểm tra (văn bản ủy quyền ngày 24/3/2025); có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Tại đơn yêu cầu ngày 20/02/2025 và quá trình giải quyết việc lao động, người yêu cầu bà Hoàng Thị H trình bày:

Bà Hoàng Thị H tiến hành điều chỉnh thông tin Bảo hiểm xã hội, BHYT thì Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của bà H bị trùng. Lý do bị trùng bảo hiểm: Năm 2009, bà H có cho em ruột là bà Hoàng Thị H1 (sử dụng thông tin của bà H) để ký hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn T; địa chỉ: Số H, đường số H, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, khoảng thời gian từ tháng 7/2009 đến tháng 02/2010, đóng BHXH số 7409227038. Do đó, bà H bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 7/2009 đến tháng 02/2010 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T, tương đương với thời gian em ruột bà H là bà Hoàng Thị H1 mượn hồ sơ lao động của bà H.

Sau nhiều lần liên hệ với Bảo hiểm xã hội thành phố D thì được hướng dẫn đến Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để tuyên bố hợp đồng vô hiệu đối với hợp đồng lao động giữa em ruột bà H (là bà Hoàng Thị H1) với Công ty trách nhiệm hữu hạn T theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 của Bộ L1.

Vào thời điểm năm 2009, em ruột bà H là Hoàng Thị H1 chưa đủ 18 tuổi nên không đủ điều kiện để ứng cử lao động. Bà H và bà H1 là chị em ruột với nhau nên mới hỗ trợ bà H1 mượn thông tin cá nhân để làm hồ sơ lao động, vì bà H, bà H1 không hiểu biết pháp luật nên mới xảy ra câu chuyện như ngày hôm nay.

Do đó, bà Hoàng Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Hoàng Thị H với Công ty trách nhiệm hữu hạn T là vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty trách nhiệm hữu hạn T: Công ty đã được Tòa án thông báo nội dung khởi kiện và tống đạt Quyết định mở phiên họp, nhưng không có ý kiến.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh B trình bày:

- Bà Hoàng Thị H (H1) có mã số 7409227038, có quá trình từ tháng 7/2009-02/2010 làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T; địa chỉ: Số H, đường số H, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đã hưởng chế độ ốm đau, BHXH một lần.

- Bà Hoàng Thị H sau đó cũng dùng mã số 7409227038 tiếp tục đi làm, có quá trình từ tháng 7/2018-10/2023 tại Công ty Cổ phần D - C; địa chỉ: KCN C, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Đã hưởng chế độ ốm đau.

Căn cứ vào quá trình tham gia tại mã số 7409227038 thì quá trình giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn T và Công ty Cổ phần D - C không trùng quá trình.

Ngoài ra, qua rà soát dữ liệu bà Hoàng Thị H có thêm mã số 7409194750, có quá trình từ tháng 6/2009-11/2015 tại Công ty TNHH Y; địa chỉ: Số A, Lô J, đường số F, KCN S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đã hưởng chế độ ốm đau, BHXH một lần, BHTN.

Kết quả cho thấy quá trình giữa mã số 7409227038, quá trình từ tháng 7/2009-02/2010 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T trùng với quá trình mã số 7409194750, quá trình từ tháng 6/2009 -11/2015 tại Công ty TNHH Y.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H1 trình bày:

Năm 2009, do bà Hoàng Thị H1 không đủ tuổi để ký kết hợp đồng lao động nên bà H1 có mượn thông tin cá nhân (CMND) của chị ruột (là bà Hoàng Thị H) để ký hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn T; địa chỉ: Số H, đường số H, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, khoảng thời gian từ tháng 7/2009 đến tháng 02/2010, đóng BHXH số 7409227038. Do đó, bà H bị trùng thời gian tham gia bảo hiểm xã hội thời gian từ tháng 7/2009 đến tháng 02/2010 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T, tương đương với thời gian bà H1 mượn hồ sơ lao động của bà H. Nay, bà Hoàng Thị H yêu cầu Tòa án: Tuyên hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Hoàng Thị H với Công ty trách nhiệm hữu hạn T là vô hiệu và không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì bà H1 đồng ý, không có ý kiến gì.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu: Thẩm phán được phân công thụ lý và giải quyết vụ việc lao động đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tại phiên họp đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng Công ty trách nhiệm hữu hạn T không thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Yêu cầu của bà Hoàng Thị H là có căn cứ, đề nghị Toà án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Bà Hoàng Thị H có đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là yêu cầu về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng lao động được giao kết và thực hiện tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T; địa chỉ: Số H, đường số H, khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo điểm v khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, người yêu cầu giải quyết việc lao động bà Hoàng Thị H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị H1, Bảo hiểm xã hội tỉnh B có yêu cầu giải quyết vắng mặt và Công ty trách nhiệm hữu hạn T vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục phiên họp.

Đối với yêu cầu của bà Hoàng Thị H xét thấy:

[2.1] Việc bà Hoàng Thị H1 mượn thông tin cá nhân (chứng minh nhân dân) của bà Hoàng Thị H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty trách nhiệm hữu hạn T là gian dối. Hành vi trên là vi phạm nguyên tắc “Trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động.

Bảo hiểm xã hội tỉnh Bình Dương cung cấp thời gian đóng bảo hiểm xã hội của bà Hoàng Thị H bị trùng từ 7/2009 đến tháng 02/2010 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn T (theo mã số BHXH 7409227038).

Trình bày của bà Hoàng Thị H là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết việc dân sự, phù hợp lời lời trình bày của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, bà Hoàng Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Hoàng Thị H với Công ty trách nhiệm hữu hạn T vô hiệu là có cơ sở chấp nhận.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc dân sự, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng với tổng số tiền 3.200.000 đồng, bà Hoàng Thị H phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp, theo quy định tại khoản 2 Điều 180 Bộ luật Tố tụng Dân sự

Về lệ phí: Bà Hoàng Thị H phải chịu lệ phí theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 33, 39, 149, 180, 367, 401, 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 15, 16, 49, 50 và 51 của Bộ luật Lao động;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu của bà Hoàng Thị H.

- Tuyên bố hợp đồng lao động đã ký giữa bà Hoàng Thị H với Công ty trách nhiệm hữu hạn T là vô hiệu.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Hoàng Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng lệ phí bà H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007848 ngày 26/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

3. Chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Bà Hoàng Thị H phải chịu 3.200.000 đồng

4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện Kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự./.

Cỡ chữ